Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

Câu số 2: Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta là một đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ … phải xứng đáng là một người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân”. Đồng chí hãy phân tích luận điểm ấy của Người và liên hệ với việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Câu số 2: Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta là một đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ … phải xứng đáng là một người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân”.
Đồng chí hãy phân tích luận điểm ấy của Người và liên hệ với việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Bài làm

Sau khi lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thành công cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức quan tâm đến việc xây dựng Đảng ta với tư cách là một Đảng cầm quyền. Người coi đó là một nhiệm vụ quyết định thắng lợi của cách mạng, sự tồn tại và phát triển của chế độ xã hội mới, xã hội  xã hội chủ nghĩa. Trong Tuyên ngôn của đảng Cộng sản, C. Mac và Ph. Ăngghen nói rằng: Giai cấp vô sản mỗi nước, trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành dân tộc. Phát triển sáng tạo tư tưởng này, chủ tịch Hồ Chí Minh là người mác-xít đầu tiên đã kết hợp việc tăng cường bản chất giai cấp công nhân với việc nâng cao tính nhân dân, tính dân tộc trong công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Người đã chỉ ra, để CM thành công phải có một Đảng chân chính lãnh đạo. Để Đảng vững mạnh thì “ cán bộ, Đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân”. Trên cơ sở đó, Người đã giáo dục đội ngũ Đảng viên phải luôn trau dồi đạo đức cách mạng, xây dựng đội ngũ của Đảng trong sạch, vững mạnh để nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ và mục tiêu mà Đảng ta đã xác định ngay từ khi được thành lập đến nay.

HCM đã vận dụng một cách sáng tạo quy luật về Đảng cộng sản - Đảng cầm quyền. Bởi vì tư tưởng HCM về Đảng cộng sảnbắt nguồn từ học thuyết của Mác và ĐCS mà trực tiếp từ học thuyết về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, đã được Lênin đưa ra. Nhưng xuất phát từ những điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo học thuyết ấy để đưa đến việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam vào năm 1930. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã có tính giai cấp và tính nhân dân.
Bên cạnh những nguyên lý chung của việc thành lập Đảng cộng sản trên các nước, HCM còn kết hợp giữa CN Mac Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước là cơ sở và điều kiện vững chắc cho Đảng Công sản Việt Nam ra đời. Vì vậy, Đảng Công sản Việt Nam chính là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mac-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
 Trong tư tưởng và hành động của người, luôn thấy cần có sự lãnh đạo của Đảng CM chân chính của giai cấp công nhân, và Người đã ra sức làm cho Đảng đảm đương được vai trò đó. Nhờ vậy, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đưa CMGPDT đến thắng lợi, và vai trò lãnh đạo của Đảng có tiếp tục giữ vững thì cuộc CM XHCN mới đi đến thành công.
Tư tưởng HCM về Đảng cầm quyền được thể hiện, trải qua các cao trào cách mạng ngày càng sôi nổi, quyết liệt, Đảng CSVN đã lãnh đạo toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc CN tháng 8 năm 1945, chính quyền của nhân dân được thành lập, Đảng CSVN trở thành Đảng cầm quyền để tiếp tục lãnh đạo nhân dân, xây dựng CHXH đã được HCM khẳng định: Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo vì: Dù nhân dân đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh trong nước và âm mưu của đế quốc xâm lược vẫn còn. Vì phải xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hóa, XH, cho nên Đảng vẫn phải tổ chức lãnh đạo giáo dục quần chúng, để nhân dân lao động đến thắng lợi hoàn toàn. Trong quá trình xây dựng và củng cố Đảng, chủ tịch HCMthường xuyên chăm lo bản chất giai cấp công nhân và nêu cao lý tưởng của Đảng. Người nói: “Người cộng sản chúng ta không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là:  suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho CNXH và CNCS thắng lợi hoàn toàn trên tổ quốc ta và trên thế giới” (Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG, HN 1995t12 tr 93). Do đó, theo Người, Đảng cầm quyền là Đảng tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong điều kiện Đảng đã lãnh đạo quần chúng nhân dân giành được quyền lực NN và Đảng trực tiếp lãnh đạo bộ máy NN đó để tiếp tục hoàn thành sự nghiệp độc lập dân tộc, dân chủ và CNXN. Vai trò chức năng cốt lõi nhất, quan trọng nhất của Đảng cầm quyền là Đảng lãnh đạo chính quyền. Đảng cầm quyền để đảm bảo giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của chính quyền NN. NN do Đảng lãnh đạo phải mang tính chất nhân dân, là công bộc, là đầy tớ của dân, chăm lo cho dân về mọi mặt.  Đảng lãnh đạo NN bằng đường lối chủ trương được thể chế hóa thành hiến pháp, pháp luật, chính sách, bằng quy hoacïh bố trí sử dụng cán bộ, bằng kiểm tra giám sát việc thực hiện đường lối của Đảng với chính quyền.                                     
Một chức năng khác rất quan trọng của Đảng cầm quyền là Đảng lãnh đạo mặt trận và các tổ chức chính trị-XH. HCM chỉ ra rằng yếu tố làm cho Đảng nắm vững quyền lãnh đạo là “Chính sách đúng đắn” và “Năng lực lãnh đạo” của Đảng. Đảng vạch ra chủ trương và đường lối lãnh đạo thuyết phục các tổ chức chính trị XH tham gia hoạt động công tác phong trào CM.
Như vậy” Đảng cầm quyền” không những Đảng lãnh đạo chính quyền NN mà còn lãnh đạo toàn XH. HCM đã từng nhấn mạnh điều này trong di chúc  của Người: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi Đảng viên và cán bộ phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, làngười đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. ( Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb CTQG, HN 1996, t12 tr 510).
Để tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo toàn XH, Đảng cần giữ vững và tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân. Người căn dặn:  chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta. Người còn căn  dặn: cán bộ đảng viên phải vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân;
Từ khi Đảng ta ra đời, do có đường lối đúng đắn và có sự gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng ta đã được nhân dân thừa nhận là Đảng duy nhất có vai trò lãnh đạo cách mạng VN. Trong suốt tiến trình đi lên cách mạng Việt Nam, Đảng ta hoàn toàn xứng đáng với sự tin cậy ấy. Dưới dự lãnh đạo của Đảng và của lãnh tụ HCM, nhân dân đã giành đuợc thắng lợi trọn vẹn của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và vững bước tiến lên con đường XHCN. Cũng trong suốt tiến trình cách mạng VN theo HCM, Đảng phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Hai mặt lãnh đạo và đầy tớ không tách rời nhau, không đối lập nhau, mà thống nhất biện chứng với nhau. Đây là một luận điểm lớn đã được HCM nhắc đi nhắc lại nhiều lần, đây cũng là một quan điểm nhất quán khi người xác định vai trò lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm của mỗi cán bộ, Đảng viên.
Cần phải thấy rõ rằng cán bộ Đảng viên từ nhân dân mà ra, nhưng lại có trách nhiệm hướng dẫn nhân dân thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng và NN, tức là thực hiện vai trò của người lãnh đạo. Muốn hướng dẫn nhân dân thi hành, muốn nói cho dân tin, dân nghe và làm theo mình thì cán bộ đảng viên phải là người có tài có đức, được nhân dân tin yêu, mến phục. Bác cũng đã dạy “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán cộng sản là ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ yêu mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn dân mình phải làm mực thứớc cho họ bắt chướt”. Như vậy: theo HCM Đảng và người lãnh đạo phải trước hết là người “Nói đi đôi làm” ; là ngườiphải làm gương đi đầu trong việc thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng. Nói đến năng lực lãnh đạo quần chúng của Đảng viên, HCM chú trọng không chỉ trình độ, năng lực lãnh đạo quần chúng mà còn cả phương pháp khoa học và thực thi dân chủ; không chỉ trí tuệ mà còn cả kinh  nghiệm và bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống gương mẫu, tận tuỵ hy sinh phục vụ dân chúng làm công bộc đầy tớ trung thành của dân. Người đòi hỏi rất cao thái độ dũng cảm và sự thành thật trong tự phê bình, phê bình của Đảng, của cán bộ, Đảng viên. Người nói “ Phê bình cũng như uống thuốc. Sợ phê bình, cũng như có bệnh mà giấu bệnh . không giám uống thuốc. Để đến nỗi bệnh ngày càng nặng, không chết cũng la lết quả dưa” (Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, HN, 1995, t5, tr 260.) và Người còn nói: “ Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ nhửng cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (Hồ Chí Minh: Sđd tr 261). Có như vậy, Đảng mới được dân tin cậy, dân phục, dân yêu mến, dân giúp đỡ, ủng hộ và bảo vệ, chỉ như vậy Đảng mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạng, chắc chắn và chân chính.
Song song với việc thực hiện tốt vai trò lãnh đạo thì đảng viên của Đảng cầm quyền lại càng phải ý thức thật sâu sắc mình là đầy tớ nhân dân chứ không phải người chủ của nhân dân. cần phải xác định rõ ràng Đảng lãnh đạo nhà nước là nhằm xây dựng một nước thật sự của dân, do dân và vì dân để nhân dân làm chủ nhà nước, điều mà trước khi cách mạng thành công không thể có được. Đảng cầm quyền nhân dân làm chủ quyền lực cao nhất vẫn thuộc về nhân dân: đó chính là quan điểm rất quan trọng của HCM. Vì vậy Đảng viên không được tự cho  phép mình đứng trên nhân dân, trên nhà nước, trên pháp luật là đầy tớ trung thành của nhân dân như HCM đã nói : “ ngoài quyền lợi của giai cấp, của nhân dâncủa dân tộc. Đảng ta không có  lợi ích gì khác” ( Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 4).Vì vậy, Đảng phải thường xuyên chăm lo cũng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Đảng không ở trên nhân dân, cũng không ở ngoài dân, mà ở trong dân; trong lòng dân. Không phải chỉ có nhà nước mới lấy dân làm gốc mà Đảng cũng phải lấy dân làm gốc. Chính cái gốc này tiếp tục đem lại nguồn sinh lực vô tận cho Đảng để tiếp tục giúp Đảng thực hịên công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc .Là đầy tớ trung thành của nhân dân, theo Người, Đảng ta còn  phải biết nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, chăm lo nâng cao đời sống vật chất, văn hóa lẫn tinh thần cho nhân dân việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh… cùng với những điều kiện trên Đảng còn phải ra sức bồi dưỡng nâng cao trí tuệ, sức mạnh của nhân dân, phát huy dân chủ một cách sâu rộng, song không đựơc mị dân, mơn trớn, lợi dụng hoặc theo đuôi quần chúng.
Do vậy để thực hiện được vai trò vừa là người lãnh đạo vừa là đài tớ trung thành của nhân dân mọi cán bộ đảng viên và Đảng phải đề phòng nguy cơ tha hoá quyền lực, không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng.
Từ chưa cầm quyền sang cầm quyền, đó là một sự thay đổi cơ bản trong tồn tại và phát triển của một đảng cộng sản. Hàng loạt thử thách, gay go mới được đặt ra trước Đảng cộng sản. Một Đảng anh hùng trong đấu tranh giành chính quyền vẫn có thể tiêu vong khi cầm quyền. Quan liêu, tham nhũng, hủ hoá luôn là những nguy cơ đe doạ làm mất phẩm chất của những người cộng sản cầm quyền. Nhà nước là công cụ để cách mạng có thể chuyển từ nhiệm vụ phá hoại trật tự cũ sang xây dựng trật tự xã hội mới thì cũng đồng thời như một “cái bẫy” đối với những đảng viên cộng sản thiếu bản lĩnh. Đã có những người cộng sản chưa thấy hết chính quyền là vấn đề cơ bản của cách mạng. Xuất phát từ tầm quan trọng đó, HCM chỉ ra rằng: Khi trở thành Đảng cầm quyền,Đảng phải làm thế nào để quyền lực không làm tha hóa, biến chất Đảng viên. Người đã đề cập đến 3 nguy cơ làm tha hoá biến chất cộng sản:  Đó là nguy cơ làm sai lầm đường lối, nguy cơ về chủ nghĩa cá nhân phát triển và nguy cơ xa dân, mất dân, quần chúng. Sự sai lầm về đường lối xuất phát trừ sự thiếu vững vàng về chính trị, không đứng vững trên lập trừơng giai cấp công nhân, thiếu tri thức, lý luận. Trong điều kiện cầm quyền, chủ nghĩa cá nhân dễ có cơ hội phát triển “đẻ ra nhiều cái xấu” gây tác hại lớn “Làm mất lòng tin cậy của dân sẽ làm hại đến uy tín của Chính phủ. Tham nhũng, quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước. Mỗi biểu hiện của tệ tham nhũng, bệnh quan liêu. Xa dân đều làm suy yếu Đảng, hơn nữa còn làm cho sự tồn tại của Đảng không còn ý nghĩa. Những vấn đề trên còn là những vấn để HCM đặc biệt quan tâm giáo dục cán bộ, Đảng viên, nhất là khi Đảng đả trở thành Đảng cầm quyền.
Do đó, vấn đề quan trọng là sau khi nghiên cứu tư tưởng HCM về Đảng cầm quyền thì mỗi chúng ta vận dụng vào thực tế như thế nào để góp phần giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãng đạo và sức chiến đấu của Đảng trong mỗi giai đoạn cánh mạng nhất là giai đoạn hiện nay.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta trong thời gian qua, bên cạnh những thành tụ mà Đảng và nhân dân ta đạt được, bên cạnh đó còn bộc lộ một số yếu kém như ĐH Đảng lần thứ X đã xác định là: Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở đảng thiếu sức chiến đấu và không đủ năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh. Công tác lý luận chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới. Công tác tổchức và cán bộ còn nhiều mặt yếu kém. Chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát chưa cao.
Kế thừa, vận dụng TTHCM về đảng CS, tiếp thu nghị quyết TW 6 lần 2 (khóa 8), Hội nghị TW 7 (khóa 8) và Nghị quyết Đại Hội lần thứ IX của ĐCSVN về công tác xây dựng Đảng, việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng ngày càng trở nên là nhiệm vụ cấp bách. Đặc biệt chủ đề học tập và làm theo tấm gương tư tưởng Đạo dức Hồ Chí Minh năm 2010 về: Xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh “là đạo đức, là văn minh”.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sự cầm quyền của Đảng ta là do nhân dân ta giao phó cho trách nhiệm cầm quyền đó. Cho nên, Đảng phải luôn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, việc thường xuyên tự đổi mới, tự chính đốn càng phải đưọơc chú ý, trở thành quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Vận dụng tư tưởng của Người việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện nay chúng ta phải quan tâm thực hiện tốt những nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, phải tăng cường công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức; tiến hành đúng đắn phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể CT-XH cũng như đối với toàn xã hội; chú trọng rèn luỵên đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên,… làm cho Đảng luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.
Hai là, từng tổ chức Đảng và đảng viên phải luôn chú ý đề phòng và khắc phục những biểu hiện tiêu cực, thoái hoá, biến chất, luôn giữ gìn Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Muốn vậy mỗi cán bộ đảng viên phải góp phần khắc phục tình trạng thoái hóa biến chất, suy đồi đạo đức, lối sống tham nhũng, lãng phí xa hoa, chống chủ nghĩa cá nhân…khắc phục các bệnh quan liêu xa rời quần chúng, bệnh chủ quan hình thức địa phương, cục bộ bè phái ham danh vị…. Phải thật sự làm cho toàn Đảng và tổ chức cơsở Đảng cũng như mỗi cán bộ, Đảng viên trong sạch vững mạnh, phải suốt đời phần đấu hy sinh cho lý tưởng của Đảng, phải thật sự đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc của nhân dân lên trên hết và lên trước hết. Đồng thời cán bộ, đảng viên phải giữ cho mình cố một đời tư trong sáng, phải là một tấm gương sáng trong cuộc sống.
- Ba là, Đảng phải thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên để đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn luôn tòn tâm, toàn ý phụng sự Tổ quốc, phục vụ cach mạng, phục vụ nhân dân. Muốn vậy mỗi cán bộ, đảng viên phải phấn đấu rèn luyện, học tập để thật sự là những người đủ đức, đủ tài đểm đảm đương được mọi nhiệm vụ được giao. Đồng thời phải luôn luôn giác ngộ cách mạng, trung thành với lý tưởng của Đảng, đi tiên phong trong phong trào cách mạng ở địa phương, đơn vị nơi sinh sống cũng như học tập, công tác.
- Thứ tư là, Đảng phải không ngừng vươn lên đáp ứng kịp yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới do sự biến đổi của tình hình trong nước và thế giới hiện nay. Muốn vậy, Đảng phải chú trọng nâng cao tầm trí tuệ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình. Củng cố hoàn thiện một số vấn đề về tổ chức: Thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng,  sắp xếp lại bộ máy Đảng theo khuynh hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu quả. Nâng cao năng lực trí tuệ của Đảng, không ngừng hoàn thiện về đường lối chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước. Thực hiện việc quản lý, kiểm tra chặt chẻ đối với cán bộ, Đảng viên. Bên cạnh đó Đảng viên viên luôn phải có ý thức cảnh giác, chống các âm mưu phá hoại Đảng của kẻ thù trong và ngoài nước.
Tóm lại, Với kinh nghiệm, tri thức cổ kim đông tây phong phú, uyên bác trong lĩnh vực dùng người, đào tạo và sử dụng can bộ cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cho chúng ta nhữngnguyên tắc căn bản trong phương thức lãnh đạo của Đảng và cho mỗi cán bộ, đảng viên. Có thể nói, đây là kho tàng tri thức quý giá đối với sự tu dưỡng, rèn luyện năng lực lãnh đạo và phẩm đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Đồng thời đây cũng là cơ sở lý luận cho việc đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. Bước vào thời kỳ CNH, HĐH hiện nay, luận điểm: Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên gía trị. Do đó, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng phải tiếp thu và vận dụng đúng đắn tư tưởng của Người về Đảng cầm quyền trong giai đoạn hiện nay, cần phải có sự thống nhất cao trong Đảng để nhận thức và quan điểm trong các vấn đề đặc biệt là những vấn đề có tính nguyên tắc đi đôi với phát huy dân chủ rộng rãi thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Tuy nhiên, mở rộng dân chủ phải gắn với tăng cường kỷ cương, chống tình trạng vô chính phủ, tuỳ tiện, nhất là các biểu hiện lợi dụng dân chủ để chống Đảng, chống nhân dân, chống chế độ. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng./.
  

LỜI GIẢI CHI TIÊT 56 CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN HỌC TTHCM (câu 51- câu 56)

Câu 51 :Tại sao có thể khẳng định: điểm nổi bật trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là sự khoan dung rộng lớn.
Trả lời:
Lòng khoan dung rộng lớn trong TTHCM.
Đoàn kết lâu dài và rộng rãi các lực lượng là thể hiện lòng nhân ái bao dung cao cả.
Vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, ứng xử có lý có tình với kiều dân nước ngoài, bảo vệ tính mạng và tài sản của họ.
Lòng nhân ái bao la còn thể hiện ở nguyên tắc đánh kẻ chạy đi, không đánh người quay lại. Hồ Chí Minh có chính sách khoan hồng đại lượng, đối xử nhân đạo với tù binh.
Cán bộ, đảng viên có lỗi, chú ý giáo dục nhiều hơn so với xử phạt.
Trân trọng ý kiến khác nhau, kể cả ý kiến trái với mình.
Người chắt lọc tinh hoa, tiếp thu hạt nhân hợp lý từ chủ nghĩa nhân văn phương Đông, phương Tây, hình thành tư tưởng khoan dung đối với tất cả mọi người, trừ bọn cướp nước, kẻ cố ý hại dân, cam tâm phản quốc.
Tấm lòng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân hậu, bao dung cả với những vị quan lại cũ, những trí thức đã từng tham gia chính quyền bù nhìn. Họ được Người cảm hóa bằng sự khoan dung. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp quanh mình và phát huy tác dụng của những vị vốn là đại thần của Nam triều cũ như cụ Thượng thư Bùi Bằng Đoàn, cụ Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, cụ Tổng đốc Vi Văn Định...
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng người đều có ưu điểm, khuyết điểm, mặt tốt, mặt xấu, mặt được, mặt chưa được..., hết sức phong phú, như năm ngón tay dài ngắn khác nhau, như mấy mươi triệu con người Việt Nam “có thế này, thế khác”. Và tuy dài ngắn khác nhau, nhưng cả năm ngón tay đều tập hợp nhau lại thành bàn tay; tuy người thế này, người thế khác, nhưng đều là nòi giống Lạc Hồng, ai cũng có ít hay nhiều lòng yêu nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là hiện thân rực sáng của tấm lòng nhân ái, khoan dung, mà còn thường xuyên giáo dục, nhắc nhở những ai có chức, có quyền, đặc biệt chức to, quyền lớn càng phải thương yêu, độ lượng với người dưới, với chiến sĩ.
Di sản tư tưởng nhân văn - đạo đức Hồ Chí Minh để lại là hết sức phong phú, sâu sắc, có giá trị lý luận và thực tiễn lớn lao. Những nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn - đạo đức Hồ Chí Minh đang được Đảng ta vận dụng và phát triển trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, vì hạnh phúc con người.
Câu 52 :Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh: con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng.
Trả lời :
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng
a. Con người là mục tiêu giải phóng của sự nghiệp cách mạng
Mục tiêu của cách mạng là giải phóng con người, mang lại tự do, hạnh phúc cho con người; nhưng sự nghiệp giải phóng là do chính con người thực hiện. Với tư cách là mục tiêu của cách mạng, mọi chủ trương đường lối, chính sách của Đảng phải vì dân, vì lợi ích của dân. Bao nhiêu lợi ích cũng vì dân. Dân trước hết là giai cấp công nhân, liên minh với nông dân, trí thức cũng là một tầng lớp cần coi trọng.
b. Con người là động lực của cách mạng
Với tư cách là động lực của cách mạng, cần phải tổ chức và thức tỉnh hàng chục triệu nông dân, phải thức tỉnh và tổ chức toàn thể giai cấp công nhân. Có như vậy mới tạo ra sức mạnh to lớn để có thể làm cách mạng thành công. Họ phải có trí tuệ, bản lĩnh, văn hoá, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền truyền thống lịch sử và văn hoá hàng ngàn năm của dân tộc. Lịch sử đã chứng minh, quần chúng nhân dân là lực lượng sáng tạo cơ bản, có dân là có tất cả. Xuất phát từ sự đánh giá đúng con người và hiểu biết con người, con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi hoạt động có tổ chức, có lãnh đạo. Đảng cách mạng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, qua phong trào cách mạng của quần chúng, Đảng sẽ nhân sức mạnh của con người lên gấp bội lần.
1. Phương hướng
Phương hướng vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới là nắm vững quan điểm thực tiễn, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người để giải quyết đúng những vấn đề do thực tiễn đặt ra.
2. Một số nội dung chủ yếu vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay
+ Kiên định với con đường mà Hồ Chí Minh lựa chọn. Hiện nay chúng ta tiếp tục thực hiện sáu đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà Cương lĩnh xây dựng đất nước đã nêu:
Chủ nghĩa xã hội do nhân dân lao động làm chủ.
Xã hội có nền kinh tế phát triển cao, LLSX hiện đại và chế độ công hữu về TLSX chủ yếu.
Xã hội có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, có điều kiện phát triển người lao động tự do toàn diện.
Các dân tộc bình đẳng , đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
+ Dựa vào sức mạnh của toàn dân. Động lực chủ yếu để xây dựng đất nước.
- Một là, thường xuyên chăm lo xây dựng và phát triển nguồn lực con người.
- Hai là, tiếp tục xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Ba là, tôn trọng quyền làm chủ của dân.
- Bốn là, dựa vào sức mạnh của dân, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, dựa trên giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
- Năm là, Làm cho nhân dân làm tròn nghĩa vụ công dân.
+ Xây dựng, kiện toàn hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng Cộng sản Việt Nam vững mạnh.
Xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân.
Chăm lo xây dựng Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. 
Câu 54 : Hãy làm rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về tính chất và chức năng văn hoá.
Trả lời :
 Những quan điểm chung của Hồ Chí Minh về văn hoá
 “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
1. Quan điểm về tính chất của nền văn hoá.
Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, nền văn hoá thể hiện:
- Tính dân tộc, đặc tính dân tộc hay cốt cách dân tộc là cái tinh tuý, đặc trưng riêng của văn hoá dân tộc. Cốt cách văn hoá dân tộc không phải “nhất thành bất biến”, mà có phát triển và bổ sung nét mới.
- Tính khoa học của nền văn hoá thuận với trào lưu tiến hoá của tư tưởng hiện đại: hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Những người làm văn hoá phải có trí tuệ, hiểu biết khoa học tiên tiến, phải có chiến lược xây dựng văn hoá mang tầm thời đại.
- Tính đại chúng của nền văn hoá là phục vụ nhân dân, phù hợp nguyện vọng của nhân dân, đậm đà tính nhân văn.
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, nền văn hoá thể hiện:
- Nội dung xã hội chủ nghĩa: tiên tiến, tiến bộ, khoa học, hiện đại, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
- Tính dân tộc của nền văn hoá là giữ gìn, kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, phù hợp với điều kiện lịch sử mới.

2. Quan điểm về chức năng của văn hoá.
- Một là, bồi dưỡng tư tưởng đạo đức đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người. Người thường xuyên quan tâm đến bồi dưỡng lý tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Đó là chức năng cao quý của văn hoá. Hồ Chí Minh nói phải làm cho văn hoá soi đường cho quốc dân đi, đi sâu vào tâm lý quốc dân, để xây dựng tình cảm lớn cho con người.
- Hai là, nâng cao dân trí, “mọi người phải hiểu biết quyền lợi của mình... phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” Khi miền Bắc quá độ lên CNXH, Người nói “chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống vui tươi hạnh phúc.”
- Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách lành mạnh, luôn hướng con người vươn tới chân- thiện- mỹ để không ngừng hoàn thiện bản thân mình.

Câu 55: Hãy phân tích các quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về các lĩnh vực chính của văn hóa.
Trả lời:
a) Văn hoá giáo dục:Trong nền giáo dục phong kiến, kinh viện xa
Nền giáo dục của nước Việt Nam sau khi được độc lập là nền giáo dục mới.
- Mục tiêu của văn hoá giáo dục là thực hiện cả ba chức năng của văn
- Cải cách giáo dục là xây dựng hệ thống trường, lớp với chương trình và nội dung dạy học thật khoa học, hợp lý, phù hợp với bước phát triển của ta. Học chính trị, khoa học - kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, lao động…
- Phương châm, phương pháp giáo dục:
Phải luôn gắn giáo dục với thực tiễn Việt Nam, học đi đôi với hành, học kết hợp với lao động sản xuất. Giáo dục phải có tính định hướng đúng đắn, rõ ràng, thiết thực, phối hợp nhà trường với gia đình – xã hội, thực hiện bình đẳng dân chủ trong giáo dục.
Học ở mọi nơi, mọi lúc, học mọi người; học suốt đời; coi trọng việc tự học, tự đào tạo và đào tạo lại. “học không biết chán, học không bao giờ đủ, còn sống còn phải học”.
Phương pháp giáo dục phải bám chắc vào mục tiêu giáo dục.
- Quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất, yêu nghề; phải có đạo đức cách mạng, phải yên tâm công tác, đoàn kết; phải giỏi chuyên môn, thuần thục phương pháp.
b) Văn hoá văn nghệ:
- Văn nghệ là một mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xã hội mới, con người mới.
Văn nghệ là mặt trận “ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà”.
Văn nghệ sĩ là chiến sĩ “Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự tổ quốc, phụng sự kháng chiến, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh. Để làm tròn nhiệm vụ, chiến sĩ nghệ thuật cần có lập trường vững vàng, tư tưởng đúng... đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết”. Họ phải nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ, đặc biệt phải có phẩm chất, bản lĩnh, tài năng để sáng tạo ra những sản phẩm tinh thần phục vụ cuộc sống, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.
- Văn nghệ phải gắn với thực tiễn của đời sống nhân dân. “Thật là một thế giới thần tiên. Nhưng tôi nhớ mường tượng như Lỗ Tấn, nhà đại văn hào của cách mạng Trung Hoa đã nói một câu đại ý như thế này: Người trần lên tiên có lẽ cũng thích thật. Nhưng nhìn mãi cái đẹp không thay đổi rồi cũng thấy chán, thấy nhạt nhẽo và mới biết rằng muốn tìm thấy sự thay đổi, sự ham mê thật thì phải trở về với cuộc sinh hoạt thực tại của con người.” Thực tại đem lại nguồn sinh khí vô tận cho văn nghệ. Chiến sĩ văn nghệ phải thật hoà mình với quần chúng và không được quên rằng “...chỉ có nhân dân mới nuôi dưỡng cho sáng tác của nhà văn bằng những nguồn nhựa sống. Còn nếu nhà văn quên điều đó – thì nhân dân cũng sẽ quên anh ta.” Thực tiễn không chỉ là nguồn nuôi dưỡng những sáng tác, mà còn là những tinh hoa trong sáng tác dân gian đã được chắt lọc từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nhân dân cũng sáng tác văn hoá văn nghệ và hưởng thụ văn nghệ, chúng ta thường gọi là sáng tác dân gian. Những sáng tác ấy là “những hòn ngọc quý”.
- Phải có những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại mới của đất nước và của dân tộc.Phải phán ánh cho hay, cho chân thật sự nghiệp cách mạng của nhân dân. “Quần chúng mong muốn những tác phẩm có nội dung chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi. Khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì bổ ích”. “Cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi. Cũng
c) Văn hoá đời sống
Quan điểm xây dựng đời sống mới thực sự là quan điểm độc đáo của Hồ Chí Minh về văn hoá. Khái niệm đời sống mới bao gồm cả đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới,  ba nội dung ấy có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu.
- Đạo đức mới. Theo Hồ Chí Minh là thực hành đời sống mới trước hết là thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm chính.
- Lối sống mới. Đó là lối sống có lý tưởng có đạo đức,văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hoà truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá của nhân loại. Cần phải “sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông, trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc”. Năm cách phải sửa đổi... có nghĩa là nói về mặt văn hoá của ăn, mặc, ở,... Mặt văn hoá của ăn, mặc, ở, ... phụ thuộc vào lối sống có văn hoá hay không có văn hoá của con người.
- Nếp sống mới. Quá trình xây dựng lối sống mới làm cho nó dần dần trở thành thói quen ở mỗi người, thành phong tục tập quán của cả cộng đồng trong phạm vi địa phương hay cả nước gọi là nếp sống mới. Nếp sống mới phải kế thừa những truyền thống tốt đẹp, những thuần phong mỹ tục lâu đời của nhân dân ta. Cái gì cũ mà xấu thì bỏ. Cái gì cũ mà không xấu thì phải sửa đổi cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm. Cái gì mới mà hay thì phải làm.
Câu 56: Hãy làm rõ sự vận dụng và phát triển tư tưởng văn hoá của Hồ Chí Minh với việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc?
Trả lời :
Sự vận dụng Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng văn hóa
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) của Đảng ta nêu rõ rằng, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những nội dung cơ bản của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng yêu cầu: đưa các nhân tố văn hóa, tinh thần thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, ghi rõ: "Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa, phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước..." và khẳng định rằng: "Đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình". Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa yêu cầu: "Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân". Kết luận của Hội nghị Trung ương 10, khóa IX, nhấn mạnh: Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước. Trong Diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Đảng, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng yêu cầu phải phấn đấu để mỗi tổ chức đảng và đoàn thể, mỗi cơ quan nhà nước đều là "một tấm gương văn hóa trong xã hội".
Nhắc lại các nghị quyết nói trên để thấy rõ tính bức bách của nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay; cũng là để thấy rõ rằng muốn xây dựng được tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết phải xây dựng được các phẩm chất đó trong các tổ chức của Đảng và bộ máy của Nhà nước...
Đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mà chúng tôi vừa đề cập, ta càng thấy rõ vai trò quan trọng biết dường nào của đạo đức cách mạng trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung, và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng. Không phải ngẫu nhiên trong Di chúc Người nói về Đảng và đặc biệt nhấn mạnh vấn đề đạo đức: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân".
Những lời dạy của Bác Hồ về đạo đức cách mạng, đối với Đảng ta, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, ngày nay vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi; nhất là những phẩm chất trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân, về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về đảng viên đi trước, làng nước theo sau... là không bao giờ cũ. Nếu có cái gì gọi là cũ thì đó chính là nhận thức của chúng ta về các lời dạy của Bác không đến nơi, đến chốn, không thật đầy đủ và nhuần nhuyễn, nhất là chúng ta nói mà không đi đôi với làm, hoặc nói nhiều làm ít, khiến cho đời sống văn hóa trong Đảng, nhất là đời sống về đạo đức, có những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII, đòi hỏi phải khắc phục bằng được tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức và lối sống trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, một căn bệnh nguy hiểm đang đục khoét cơ thể sống của Đảng ta. Trong cuộc chiến đấu sinh tử này, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta càng phải đề cao trách nhiệm tu dưỡng và thực hành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.


LỜI GIẢI CHI TIÊT 56 CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN HỌC TTHCM (câu 46- câu 50)

Câu 46: Hãy phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí của Đạo đức.
Trả lời :
Quan niệm về vai trò ,vị chí của đạo đức cách mạng:
Đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, chúng ta phải đem hết tinh thần và lực lượng ra phấn đấu, phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.
Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cho thanh niên, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Đạo đức được xem xét trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Vai trò của đạo đức cách mạng là to lớn, Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông, của suối. Như đối với con người, sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng. Bởi lẽ con đường đi đến độc lập dân tộc và CNXH là con đường dài, đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng của mỗi người, mỗi thế hệ và nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng ấy là công việc thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và mỗi người trong xã hội ta.
Đạo đức là gốc, là nền tảng vì nó liên quan tới Đảng cầm quyền. Nguy cơ của đảng cầm quyền đó là sự sai lầm về đường lối, suy thoái về đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đảng cầm quyền lãnh đạo xã hội, nếu cán bộ đảng viên không tu dưỡng đạo đức thì mặt trái của quyền lực có thể làm tha hoá con người. Vì thế, Hồ Chí Minh cho rằng “Đảng là đạo đức, là văn minh”.
Vai trò của đạo đức còn thể hiện là lòng cao thượng của con người. Mỗi người có công việc, tài năng, vị trí khác nhau… nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng thì là người cao thượng.
- Các thế hệ người Việt Nam phấn đấu cho độc lập dân tộc đến với Hồ Chí Minh trước hết là đến với tư tưởng đạo đức của Người. “Sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” là khẩu hiệu chung của người Việt Nam
- Tư tưởng đạo đức và bản thân đạo đức của Hồ Chí Minh là kết tinh đạo đức của dân tộc, của nhân loại. Hồ Chí Minh là điểm rực sáng về đạo đức đối với thế giới và đối với Việt Nam. Bác nói: “Đối với phương Đông một tấm gương sống còn có giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền”.
Theo Lênin, “đạo đức là những gì góp phần phá huỷ xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản.”
Hồ Chí Minh cho rằng, Đảng “là đạo đức, là văn minh”, thì mới hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình. Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc mình và của thời đại. Trí tuệ là sự hiểu biết đúng đắn về CNMLN, tri thức hiện đại của nhân loại, thực tiễn Việt Nam và thế giới, những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, những hiểu biết để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi. Đạo đức là những phẩm chất mà con người cần có để tham gia vào cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và CNXH. Muốn làm cách mạng thì con người cần có tâm trong sáng, đạo đức cao đẹp đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động, với cả dân tộc. Cái tâm ấy phải thể hiện trong các mối quan hệ xã hội hằng ngày với dân, với nước, với đồng chí, đồng nghiệp, với mọi người chung quanh mình. Phải có tâm, có đức mới giữ được CNMLN và đưa chủ nghĩa MLN vào trong cuộc sống.
Hồ Chí Minh cũng quan tâm giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân lao động. Tuỳ theo từng thời kỳ cách mạng mà Người đề ra những yêu cầu đạo đức sát hợp để mọi người cùng phấn đấu. Trong cuốn Đường Kách mệnh, bài đầu tiên nói về tư cách người cách mệnh, Hồ Chí Minh đã nêu một quan điểm lớn: phải có cái đức để đi đến cái trí, và khi có trí thì cái đức đảm bảo cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, chấp nhận, đi theo. Có đức nhưng phải có tài, đức và tài quan hệ mật thiết với nhau. Có đức nhưng phải có tài,hồng và chuyên phải kết hợp, tài càng lớn thì đức càng phải cao, vì đức – tài nhằm phục vụ nhân dân. Đạo đức là gốc, là vũ khí mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và CNXH.
Câu 47 : Hãy trình bày quan điểm của Hồ Chí Minh về những phẩm chất đạo đức của con người Việt Nam trong thời đại mới? ý nghĩa của quan điểm này đối với công cuộc chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu ở nước ta hiện nay?
Trả lời :
 A.Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại mới
a. Trung với nước, hiếu với dân
Trong mối quan hệ đạo đức thì mối quan hệ giữa mỗi người với đất nước, với nhân dân, với dân tộc là mối quan hệ lớn nhất. Trung, hiếu là phẩm chất đạo đức quan trọng nhất, bao trùm nhất.
Trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống Việt Nam và phương Đông, xong có nội dung hạn hẹp. “Trung với vua, hiếu với cha mẹ”, phản ánh bổn phận của dân đối với vua, con đối với cha mẹ. Hồ Chí Minh đã vận dụng và đưa vào nội dung mới. Hồ Chí Minh đã kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống và vượt trội. Trung với nước là trung thành với sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Nước là của dân, còn nhân dân là chủ của đất nước. “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân”. Đây là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Trung với nước, hiếu với dân là suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Bác vừa kêu gọi hành động vừa định hướng chính trị- đạo đức cho mỗi người Việt Nam.
Đối với cán bộ đảng viên phải suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, đó là điều chủ chốt của đạo đức cách mạng. Phải tuyệt đối trung thàmh với Đảng, với dân, phải tận trung, tận hiếu, thì mới xứng đáng vừa là đầy tớ trung thành, vừa là người lãnh đạo của dân; dân là đối tượng để phục vụ hết lòng. Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí để dân hiểu được quyền và trách nhiệm của người chủ đất nước.
Nội dung chủ yếu của trung với nước là:
- Đặt lợi ích của đảng, của Tổ quốc, của cách mạng lên trên hết.
- Quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu của cách mạng.
- Thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Nội dung của hiếu với dân là:
- Khẳng định vai trò sức mạnh thực sự của nhân dân.
- Tin dân, lắng nghe dân, học dân, tổ chức vận động nhân dân cùng thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.
- Chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
b. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Cần là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của con người.
Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của nhân dân, của đất nước, của bản thân mình. Tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái to; “Không xa sỉ, không hoang phí, không bừa bãi,”
Liêm là “luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân; không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân”. Phải trong sạch, không tham lam địa vị, tiền của, danh tiếng, sung sướng. Không tâng bốc mình. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Hành vi trái với chữ liêm là:... cậy quyền thế mà đục khoét, ăn của dân, hoặc trộm của công làm của riêng. Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là trộm vị. Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm là tham uý lạo. Cụ Khổng nói: người mà không liêm, không bằng súc vật. Cụ Mạnh nói: ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy.
Chính là không tà, thẳng thắn, đứng đắn. Đối với mình, với người, với việc.
Đối với mình, không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn kiểm điểm mình để phát huy điều hay, sửa đổi điều dở.
Đối với người, không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới; luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, không dối trá, lừa lọc.
Đối với việc, để việc công lên trên việc tư, làm việc gì cho đến nơi, đến chốn, không ngại khó, nguy hiểm, cố gắng làm việc tốt cho dân cho nước.
Cần, kiệm, liêm, chính cần thiết đối với tất cả mọi người. Hồ Chí Minh viết:
  “TrờI có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
   Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
   Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính
   Thiếu một mùa thì không thành trời
   Thiếu một phương thì không thành đất
   Thiếu một đức thì không thành người”.
Cần, kiệm, liêm, chính rất cần thiết đối với người cán bộ, đảng viên. Nếu đảng viên mắc sai lầm thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng. Cần, kiệm, liêm, chính còn là thước đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh về tinh thần, sự văn minh của dân tộc. “Nó” là cái cần để “làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại”.
Chí công vô tư, là làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lợi ích của cách mạng. Thực hành chí công vô tư là quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ (tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc). Chủ nghĩa cá nhân chỉ biết đến mình, muốn “mọi người vì mình”. Nó là giặc nội xâm, còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm. Hồ Chí Minh viết: “ Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Hồ Chí Minh cũng phân biệt lợi ích cá nhân và chủ nghĩa cá nhân. Chí công vô tư là tính tốt có thể gồm 5 điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là để vững vàng qua mọi thử thách : “Giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.
c. Yêu thương con người
Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp truyền thống nhân nghĩa với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thế kỷ, qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất.
Tình yêu rộng lớn dành cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức, bóc lột. Hồ Chí Minh chỉ ham muốn cho đất nước được hoàn toàn độc lập, dân được tự do, mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chỉ có tình yêu thương con người bao la đến như vậy mới có cách mạng, mới nói đến CNXH và CNCS.
 Nghiêm khắc với mình, độ lượng với người khác. Phải có tình nhân ái với cả những ai có sai lầm, đã nhận rõ và cố gắng sửa chữa, đánh thức những gì tốt đẹp trong mỗi con người. Bác căn dặn Đảng phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình chân thành.
Tình yêu thương con người còn là tình yêu bạn bè, đồng chí, có thái độ tôn trọng con người, điều này có ý nghĩa đối với người lãnh đạo.
d. Tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung
Đó là tinh thần quốc tế vô sản, bốn phương vô sản đều là anh em. Đó là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước. Đó là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với tất cả những người tiến bộ trên thế giới vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội. Sự đoàn kết là nhằm vào mục tiêu lớn của thời đại hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
B.Ý nghĩa
Từ sự phân tích sâu sắc những biểu hiện, bản chất, nội dung, nguồn gốc của tham ô, lãng phí, quan liêu, => những biện pháp nhằm chống các căn bệnh tệ hại này một cách có hiệu quả:
Thứ nhất, phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Thứ nhì, phải dựa vào quần chúng, phát động quần chúng tích cực tham gia đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu và thực hành tiết kiệm.
Thứ ba, phải hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước, đào tạo và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ.
Thứ tư phải tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, thanh tra và xử lý kỷ luật nghiêm minh những tập thể, cá nhân vi phạm.
Thứ năm, thường xuyên chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để thực hiện có hiệu quả cần coi trọng và tiến hành đồng bộ các biện pháp. Người yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”.
Câu 48 : Phân tích nguồn gốc hình thành tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.
Trả lời :
 Nguồn gốc hình thành tư tưởng nhân văn-đạo đức HCM?
1- Truyền thống nhân văn của dt: "Thương người như thể thương thân", "Người trong 1 nước phải thương nhau cùng";
2- Truyền thống văn hóa Phương đông và phương tây: Sống có nhân nghĩa, luân lý, coi trọng đạo lý làm người. Đó là lòng từ bi của Phật giáo; đó là lòng báo ái của Thiên Chúa giáo; đó là tư tưởng nhân đạo của CMTS, nhất là CMTS pháp 1789, muốn tự do, bình đẳng, bác ái trong quan hệ giữa con người với con người...
3- Cơ sở hoạt động thực tiễn của người: Quan hệ với nhiều tầng lớp nhân dân trong nước, nhất là nhân dân lao động; Đi nhiều nước trên thế giới, cả nước ĐQTB, cả các nước thuộc địa; Thấu hiểu cuộc sống, tình cảnh, ước vọng của các tầng lớp nhân dân trong xh; Bản thân người cũng đã trải qua nhiều cảnh thăng trầm, vất vả, tủi nhục trong cảnh nước mắt, nhà tan...
4- Chủ nghĩa nhân văn mác-xít: nhất là chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, khát khao giải phóng cho toàn xh, cho mọi người, nhất là người lao động bị áp bức, bóc lột...

Câu 49 : Phân tích khái niệm "con người" trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.
Trả lời :
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được khái niệm vừa là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính sự nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể trong lý luận chỉ đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại vừa tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa, phong phú
Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một cách cụ thể
Tóm lại: Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của "cái cá nhân" và "cái xã hội", con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương con người, tin tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân. Tư tưởng về con người của Người thông qua thực tiễn cách mạng của Người thông qua thực tiễn cách mạng đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết định thắng lợi của chính sự nghiệp cách mạng ấy.
Câu 50 :Lòng thương yêu vô hạn của Hồ Chí Minh đối với con người được thể hiện như thế nào?
Trả lời :
Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp truyền thống nhân nghĩa với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thế kỷ, qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất.
Tình yêu rộng lớn dành cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức, bóc lột. Hồ Chí Minh chỉ ham muốn cho đất nước được hoàn toàn độc lập, dân được tự do, mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chỉ có tình yêu thương con người bao la đến như vậy mới có cách mạng, mới nói đến CNXH và CNCS.
Nghiêm khắc với mình, độ lượng với người khác. Phải có tình nhân ái với cả những ai có sai lầm, đã nhận rõ và cố gắng sửa chữa, đánh thức những gì tốt đẹp trong mỗi con người. Bác căn dặn Đảng phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình chân thành.
Tình yêu thương con người còn là tình yêu bạn bè, đồng chí, có thái độ tôn trọng con người, điều này có ý nghĩa đối với người lãnh đạo.
Các bạn tham khảo thêm bài viết này :LÒNG YÊU THƯƠNG CON NGƯỜI - PHẨM CHẤT CAO ĐẸP TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, từ xưa đến nay đã có nhiều học thuyết, tư tưởng đề cập đến số phận con người, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của con người, thể hiện ở mức độ, giác độ tiếp cận khác nhau. Nhưng đa phần chỉ dừng lại ở sự phản ánh những nguyện vọng, ước mơ của con người về một tương lai, về những quan hệ giữa người và người tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, chỉ có học thuyết nào mang tính cách mạng và khoa học mới có thể biến những ước mơ, nguyện vọng chân chính của con người trở thành hiện thực.
Học thuyết Mác sở dĩ là một học thuyết đầy sức sống, đã chinh phục trái tim, khối óc của hàng triệu con người giữa thế kỷ XIX đến nay, trước hết vì chủ nghĩa Mác là lý tưởng mang tính nhân văn cao cả. Nhưng quan trọng hơn là nó đã vạch ra con đường để đi đến xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công trên trái đất, để xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn theo những quy luật phát triển khách quan của xã hội.
          Tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay có sức sống bền vững và ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng tình cảm của nhân dân Việt Nam và của nhân dân nhiều dân tộc trên Thế giới, chính vì tư tưởng của Bác thấm đượm chủ nghĩa nhân văn cao cả, đáp ứng những yêu cầu, nguyện vọng cháy bỏng và sâu xa của dân tộc và nhân loại.
          Tính nhân văn cao cả trong tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết biểu hiện ở tấm lòng yêu thương con người, yêu thương nhân dân hết sức bao la, sâu sắc. Bác đã từng khái quát về triết lý cuộc sống: “ Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề …  ở đời và làm người  là phải thương nước, thương dân, thương nhân lọai đau khổ bị áp bức”. Đó không phải là lòng thương hại của “bề trên” nhìn xuống, cũng không phải là sự động lòng trắc ẩn của người “đứng ngoài” nhìn vào mà là sự đồng cảm của những con người cùng cảnh ngộ với thân phận nô lệ, người dân mất nước mà Bác đã từng trải qua và từng chứng kiến biết bao cảnh đau thương, ngang trái, bất công từ khi người lớn lên cho đến lúc bôn ba tìm đường cứu nước. Bác khẳng định: “lòng yêu thương của tôi đối với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi.”
          Có thể nói, phẩm chất cao đẹp trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là lòng yêu thương vô hạn đối với con người. Từ đó, Bác đòi hỏi mọi cán bộ đảng viên phải có ý chí đấu tranh không mệt mỏi để giải phóng con người. Lúc sinh thời, Bác chỉ có một ham muốn tột bật là làm sao “nước ta được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng phải được học hành”. Về phần mình Bác chỉ mơ ước một mái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để trồng rau, sớm chiều làm bạn cùng với các cụ già hái củi và các em bé chăn trâu. Từ lòng yêu thương con người, Bác đã không ngại bôn ba tìm đường cứu  nước và họat động không mệt mỏi để lo cho nước, cho dân. Trước khi đi gặp cụ Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, Bác vẫn luôn nghĩ đến con người và sự nghiệp giải phóng của họ. Thật sâu sắc và cảm động biết bao khi thấy những gì Bác dặn chúng ta trong di chúc: “Đầu tiên là công việc đối với con người”, Bác yêu cầu Đảng, Chính phủ phải có thái độ, chính sách đối với các tầng lớp để đồng bào ta ai ai cũng mát dạ, mát lòng, thêm nhiều phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất.
          Từ lòng yêu thương con người, Bác cho rằng phải đem lòng chí công vô tư trong đối xử với người “phải biết làm cho các tầng lớp nhân dân đoàn kết lại, không được bênh vực tầng lớp này, chống lại tầng lớp khác. Trong giải quyết những vấn đề phải nhớ câu không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng”.
          Từ lòng yêu thương con người phải có niềm tin mãnh liệt vào phẩm giá tốt đẹp của con người. Người vạch rõ: “Người ta ai cũng có tính tốt và tính xấu. Mỗi người đều có thiện - ác trong lòng”. Tuy nhiên, “tốt - xấu, thiện - ác  không phải tự nhiên mà có, phần nhiều do giáo dục mà ra”:
Ngủ thì ai cũng như lương thiện
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền
Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà ra.
          Vì vậy, Bác yêu cầu thái độ của người Cách mạng phải có lòng tin trong việc giáo dục đối với con người, “phải biết làm cho lòng tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi”. Kể cả những người lầm đường lạc lối cộng tác với địch, Bác cũng có thái độ bao dung. “Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng dài ngắn đều được hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy ta phải khoan hồng đại lượng, ta phải nhận rằng con Lạc cháu Hồng thì ai cũng ít nhiều có lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tinh thần nhân ái mà cảm hóa họ”.
          Không những thế, tấm lòng bao dung và đại lượng của Bác còn thể hiện rõ hơn khi xử lý mối quan hệ ta – địch, bạn – thù. Tháng 9/1946, trả lời thư bà Chossie trong Hội liên hiệp Phụ nữ Pháp, Bác viết: “Theo tinh thần bốn bể đều là anh em, tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh niênViệt Nam. Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quý như nhau… Tôi nghiêng mình trước linh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh. Tôi cũng ngậm ngùi thương xót những người Pháp đã tử vong. Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người…. Người Pháp hay người  Việt cũng đều tin tưởng vào đạo đức: Tự do, bình đẳng, bác ái, độc lập”.
          Khi cuộc chiến giữa Việt Nam và Mỹ vào giai đoạn quyết liệt, trong buổi tiếp các nhà khoa học, các nhà báo Mỹ và Mexico Bác đã nói: “Đối với các ông, các ông khó mà tin được tôi lấy làm đau lòng không những khi nhân dân Việt Nam bị giết hại, mà tôi cũng rất buồn phiền khi lính Mỹ bị giết. Tôi thông cảm với nỗi đau buồn của cha mẹ họ. Vì vậy, chúng tôi nói với nhân dân chúng tôi rằng ta phải sẳn sàng hoan nghênh nhân dân Mỹ không phải họ đến đây như hiện nay với những người lính mang vũ khí, mà khi họ đến một lần nữa trong tương lai để giúp đỡ xây dựng đất nước ta”.
          Còn có thể nêu lên nhiều hơn nữa những lời nói, những mẩu chuyện thể hiện sự rộng mở bao dung về lòng yêu thương con người trong tư tưởng của Bác. Có lẽ vì thế mà  Burchett – nhà báo Australia nổi tiếng đã nhận xét: “Nói tới một người mà cả cuộc đời mình đã để lại ân tình sâu nặng trong nhân dân thì không có một ai khác ngòai Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Riêng bà Indira Gandi thì phát biểu: “Tính độ lượng, tính giản dị, tình yêu nhân loại sự tận tụy hy sinh và lòng dũng cảm của người sẽ cổ vũ các thế hệ mai sau”.
          Như vậy, chúng ta dể dàng nhận ra rằng trong mỗi hoàn cảnh, lúc chiến tranh cũng như lúc đã giành thắng lợi….. Bác đều luôn quan tâm đến con  người,  đến mọi tầng lớp Nhân dân, thể hiện tư tưởng và tấm lòng rộng mở, chu đáo, bao dung.

          Học tập tư tưởng, đạo đức của Bác trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên, dù ở bất cứ cương vị nào cũng phải thật gần dân, học dân, có trách nhiệm với nhân dân, quan tâm giải quyết những khó khăn, bức xúc chính đáng của dân. Phải trăn trở và thấy trách nhiệm của mình khi dân còn khó khăn, nghèo đói. Không chỉ chia sẽ và đồng cam cộng khổ với dân mà còn phải biết tập hợp, tổ chức, động viên phát huy sức mạnh của nhân dân, lãnh đạo nhân dân phấn đấu thoát khỏi đói nghèo, đồng thời tích cực đấu tranh chống tệ tham nhũng, lãng phí và thói quan liêu, vô cảm, coi thường quần chúng. Đó mới là hành động cụ thể để thực hiện lời Bác dạy.