Thứ Năm, 9 tháng 1, 2014

PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CÔNG

PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CÔNG

1.TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG

1.1. Khái niệm chính sách công.
• Chính sách: Là những hành vi ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại  trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định.
Chính sách công:
-Do NN đưa ra nhằm xác định rõ cái gì NN làm và tại sao NN làm cũng như cái giá phải trả cho việc làm đó.
 -Là sự phân bổ giá trị mang tính quyền lực của NN cho toàn XH và cái mà CP làm( hay không làm) đều gắn được sự phân bổ đó.
Khoa học chính sách chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu chính sách công. Mục đích nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước.
Để thực hiện các chức năng của mình, NN sử dụng tổng hợp hệ thống các công cụ quản lý, trong đó các kế hoạch, chính sách và pháp luật là những công cụ quan trọng nhất.
Các công cụ quản lý XH của NN
- Pháp luật
- Chính sách công
- Bộ máy nhà nước,cán bộ - công chức
- Tài sản công (ngân sách NN, đất đai và tài nguyên, công khố, kết cấu hạ tầng, các doanh nghiệp nhà nước)
-Hệ thống thông tin nhà nước…
Sự tồn tại của CS
- CSC tồn tại khách quan để duy trì sự phát triển không ngừng nền KT - XH của một quốc gia.
- Ở các nước tư bản: Chính sách công thể hiện vai trò (mức độ) của NN trong việc dùng các công cụ chính sách để can thiệp vào thị trường.
- Các quốc gia đang chuyển đổi: Sự thay đổi không đoán trước của chính sách công.
- Ở các nền kinh tế tập trung: Chính sách công để điều hành trực tiếp.
- Việt Nam: Chính sách công (được thể hiện) trong Hiến pháp 1992, Luật NN, Luật HC.
CSC (được thể hiện) trong Hiến pháp 1992, Luật NN, Luật HC.
VD- Chính sách Dân tộc ( Hiến pháp 1992- Điều 5)
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. NN thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.
Chính sách đối ngoại(Điều 14)
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; …
Chính sách phát triển KT - Điều 15
Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.  Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.

- Có nhiều quan niệm về CSC:
- Là một chuỗi các quyết định hoạt động của NN nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống KT- XH theo mục tiêu xác định.
- Paul Samuelson : “Chính sách còn là sự thỏa hiệp của Chính phủ đối với nền kinh tế ngay cả khi không ban hành chính sách”.
+Phải hiểu rằng: có những lúc NN không làm chính sách tức cũng là chính sách.
+ VD: Không can thiệp vào giá cả nhập xăng dầu, xe ô tô…
FTức là thực hiện chính sách không can thiệp vào các lĩnh vực nào đó trong khoảng thời gian nhất định.
- James E.Anderson: “Chính sách công là những hoạt động nên hay không nên làm do Nhà nước quyết định lựa chọn
- William Jenkin “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó”.
- B. Guy Peter: “Chính Sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân”.
- Hoa Kỳ: Chính sách công là tất cả những công việc mà chính quyền thi hành đến dân
* Chính sách công:
- Là những hành động của NN nhằm hướng tới những mục tiêu của đất nước.
- Chính cách công là một bộ phận của chiến lược, bao gồm những giải pháp và công cụ để thực hiện mục tiêu chiến lược.
- Điều kiện tồn tại của 1 CS:
- Là tổng hoà những hành động tích cực theo định hướng chính trị của NN nhằm tác động, giải quyết những vấn đề nảy sinh trong từng giai đoạn phát triển.
      - Được thể hiện bằng cách thức ứng xử của chủ thể quản lý của NN.
VD: Các CS
- Chính sách của Liên hiệp quốc;
- Chính sách của một Đảng;
- Chính sách của Chính phủ;
- Chính sách của một Bộ;
- Chính sách của Chính quyền địa phương;
- Chính sách của một Tổ chức, Đoàn thể, Hiệp hội…
- Chính sách của một doanh nghiệp.
- Các dấu hiệu của csc:
- Các hoạt động đó cùng hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách (không phải là tất cả các vấn đề một cách toàn diện).
- Luôn có một hoặc nhiều mục tiêu xác định
- Được các chủ thể theo đuổi thực hiện trong một thời gian tương đối dài và không có hạn định cụ thể.
- Phần lớn quy định có tính quy phạm (bắt buộc) nhưng cũng có thể mang tính định hướng cho hành vi.
- Vấn đề CS là vấn đề chung của XH, vì lợi ích chung.
- Do NN ban hành, NN là chủ thể thực hiện chính, đóng vai trò tổ chức thực hiện và vận động, huy động, khuyến khích các chủ thể khác trong XH cùng thực hiện.
- Nhà nước có thể dùng quyền lực NN để cưỡng bức thực hiện chính sách công.
- Hình thức chủ yếu của chính sách công là VBQPPL
Có nhiều cách tiếp cận khái niệm CSC:
- Tiếp cận theo thể chế NN
- CSC là sản phẩm của các thể chế NN trong mối quan hệ hợp tác, kiểm tra, kiểm soát và khống chế, cân bằng nhau
- CSC là toàn bộ các nội dung được NN quy định trong hệ thống VBPL từ HP, các đạo luật đến các VBPQ.
• Thể chế NN khác nhau→hệ thống CS khác nhau giữa các nước.
Thể chế NN: Các mối quan hệ mang tính hành vi; Các đảng phái chính trị.; Các tổ chức XH; Các nhóm lợi ích.
- Điều kiện KTXH: Thu nhập;  Lạm phát, thất nghiệp; Y tế, văn hóa, giáo dục; Khác
CSC trên tất cả các lĩnh vực: Con người; Quốc phòng; An ninh; Y tế; Kinh tế; Giáo dục….
Tiếp cận theo quan điểm QLHCNN
-CSC là những hoạt động cụ thể của Chính phủ - Là quá trình đưa ra các CS tác nghiệp cụ thể trên các lĩnh vực.
+Là báo cáo tường trình trước cơ quan NN và công dân ý tưởng của CP, cơ quan HP nhằm đạt những mục tiêu nhất định trong những điều kiện cụ thể
          +Quan điểm của CP và cơ quan HP về những việc sẽ làm hay không làm trong những điều kiện cụ thể.
           +Là bản kế hoạch định hướng cho các nhà QL các cấp trong hệ thống thực thi quyền HP đưa ra các QĐ cần thiết phù hợp với môi trường CT, KT, XH tại địa phương nhằm biến ý tưởng CS thành sản phẩm cụ thể.
          + định của cơ quan NN nhằm xác lập và hỗ trợ cho các DN có cơ hội thành công và phát triển trong KTTT
Tiếp cận theo quan điểm CS là một phạm trù:
- VD: CS công nghiệp được coi là toàn bộ CS của CP thực hiện nhằm thay đổi sự phân phối các nguồn lực cho sự phát triển công nghiệp mà trước đó chưa đề cập đến.
- Khi nghiên cứu cần xem xét tổng thể hệ thống các VB liên quan bao gồm các luật, VBPQ.
( Đồng nhất CSC với VBPL)

ĐN: CSC là định hướng hành động mà nhà nước lựa chọn đối với các vấn đề nảy sinh trong đời sống XH nhằm đạt được mục tiêu định trước
Những vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, xã hội→Mâu thuẩn + Nhu cầu của xã hội → Vấn đề chính sách
- Đặc điểm CSC
+ Do cơ quan nhà nước ban hành.
+ Có tính phổ biến, chung.
+ Tác động lên cộng đồng, có mục tiêu, mang tính ổn định.
+ NN sử dụng quyền lực NN để cưỡng chế thi hành
*Cấu trúc  của chính sách     Mục tiêu+ Biện pháp
-MụctiêucủaCS
(Chủ đạo - Quyết định sự tồn tại của chính sách)
+ Thể hiện những giá trị mà chủ thể ban hành chính sách hướng tới.
+ Đó là các mục tiêu có tính định tính,
+ Mục tiêu là yếu tố quyết định.
          Là những giá trị tương lai mà NN theo đuổi phù hợp với thái độ ứng xử của NN.
- Biện pháp của chính sách
+ Là cách thức mà NN sử dụng cho phù hợp với mục tiêu của CS và thái độ ứng xử của NN.
+ Thể hiện cách giải quyết vấn đề của chủ thể ban hành chính sách
+ Là các giải pháp để thực hiện mục tiêu
+ Có tính chất như các cơ chế, quy phạm xử sự chung chứ không phải là các quyết định cá biệt, ngẫu nhiên
+ Có nhiều loại biện pháp: trực tiếp, gián tiếp, chính, phụ (bổ trợ), kinh tế, giáo dục, hành chính …
- Quan hệ giữa mục tiêu và biện pháp
+ Quan hệ tập hợp: 1 mục tiêu được thực hiện bằng nhiều biện pháp.
+ Quan hệ tương thích: Mục tiêu mang tính chất gì→biện pháp có tính chất đó.
+ Quan hệ vận động: Mục tiêu không tăng giảm, biện pháp tăng giảm theo giai đoạn
Mục tiêu chính sách phải cụ thể, rõ ràng và hướng tới mục tiêu chung
Mục tiêu chính sách phải phản ánh mong muốn của NN về những giá trị KT, XH cần đạt được trong XH
1.2.Chủ thể, đối tượng của CSC
1.2.1. Chủ thể của CSC: Cá nhân, tổ chức tham gia vào quá trình chính sách.
- Những người tham gia XD chính sách:
          + Các nhà phân tích CS.
          + Nhóm ảnh hưởng đến quyết định CS.
          + Các nhà có thẩm quyền quyết định CS.
- Những người thực hiện chính sách:
- Các tổ chức, nhóm XH, cá nhân tham gia vào quá trình biến các thiết kế CS trở thành hiện thực.
- Những người thụ hưởng CS
1.2.2. Đối tượng của CSC
1.3.Vai trò cuả công cụ CS trong QLNN
- Định hướng hành động cho các chủ thể.
- Khuyến khích các hoạt động KTXH.
- Phát huy những mặt tích cực, hạn chế những tiêu cực của KTTT
- Phân phối nguồn lực cho quá trình phát triển.
- Tạo lập môi trường thích hợp cho các hoạt động trong nền KTXH.
- Dẫn dắt, hỗ trợ các bộ phận trong nền KT.
- Phối hợp các hoạt động của các ngành, các cấp.
* Hệ thống công cụ CS của NN
- Luật pháp, chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, giáo dục, thuyết phục, thanh tra, kiểm tra, sức mạnh KT NN, cán bộ, tổ chức, tư tưởng, lý luận,….
- Pháp luật
- Chính sách công
- Bộ máy nhà nước,cán bộ - công chức
- Tài sản công (ngân sách NN, đất đai và tài nguyên, công khố, kết cấu hạ tầng, các doanh nghiệp nhà nước)
- Hệ thống thông tin nhà nước
- Văn hóa dân tộc
* Các công cụ chính sách
- Các loại công cụ trực tiếp như đầu tư xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng sản xuất, hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, đầu tư, trợ giá, hỗ trợ di dân...
- Các loại công cụ gián tiếp thông qua hệ thống tài chính, thuế với các khoản ưu đãi về thuế, lãi suất tín dụng, lãi suất ngân hàng, ưu đãi tronng việc nhập khẩu trang thiết bị, giảm phí sử dụng các dịch vụ công cộng, ưu tiên nhận đầu tư,đào tạo và sử dụng lao động…
 * Tính công cụ của chính sách
- Chính sách thể hiện được ý chí của chủ thể trong các mối quan hệ đối nội hay đối ngoại.
- Bằng chính sách, chủ thể sẽ điều khiển được các quá trình kinh tế, xã hội vận động theo ý muốn của mình.
- Tạo dựng và củng cố mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý trong một môi trường nhất định.
- Giúp đo lường kết quả quản lý của chủ thể.
KL: CS là một công cụ QL đắc lực của các chủ thể nói chung, NN nước nói riêng.
* Vai trò của chính sách
1.3.1.Vai trò định hướng
- Nhà nước làm nhiệm vụ định hướng phát triển cho XH, khuyến khích các lực lượng, các thành phần KT cùng với NN sử dụngnguồn lực vào các hướng phát triển hợp lý., phân bổ các
- Định hướng thông qua 2 thành phần cấu trúc của CS:
                   + Mục tiêu CS.
                   + Các biện pháp CS.
- Sự tham gia ủng hộ của công dân, tổ chức ngoài NN là rất quan trọng đối với các CS loại này
VD:
- Chính sách dân số (ngày 10-10-2002 Ds Việt Nam: 80 triệu người, 2010: 88-89 triệu người)
- Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần.
- Chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tập thể.
- Chính sách khuyến khích phát triển trang trại.
- Chính sách xã hội hoá giáo dục, y tế.
1.3.2.Vai trò khuyến khích
Nhà nước chủ động dùng nguồn lực của quốc gia để khuyến khích, tạo lực đẩy cho việc phát triển theo hướng mà  NN cho là đúng.
1.3.3. Vai trò kiềm chế, hạn chế các mặt tiêu cực trong đời sống kinh tế – xã hội
- Chính sách chống độc quyền trong kinh doanh
- Chính sách bảo hộ hàng sản xuất trong nước
- Chính sách chống gian lận thương mại
- Chính sách hạn chế kinh doanh các ngành nghề “nhạy cảm” với tệ nạn xã hội
1.3.4.Vai trò tạo lập các cân đối trong phát triển
- Chính sách khuyến khích đầu tư ở các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người.
- Các chính sách nhằm cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu (cân bằng cán cân thanh toán).
- Các chính sách điều chỉnh tốc độ tăng dân số để cân đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế.
1.3.5.Vai trò kiểm soát và phân phối nguồn lực
- Nguồn tài nguyên:
       VD: chính sách của NN về kiểm soát khai thác nước ngầm.
- Nguồn tài chính (ngân sách quốc gia)
+ Chính sách phân cấp chi thu ngân sách NN.
+ Chính sách xoá đói giảm nghèo – Chương trình 135 giai đoạn 2006 - 2010
- Nguồn nhân lực:
+ Chính sách hỗ trợ đặc biệt những học sinh có năng khiếu, hoàn cảnh sống khó khăn được theo học ở các bậc học cao.
+ Chính sách khuyến khích cán bộ khoa học – kỹ thuật đến công tác tại các vùng sâu, vùng xa.
1.3.6. Vai trò tạo lập môi trường thích hợp cho các hoạt động KT - XH
- Các chính sách nhằm phát triển nền KT nhiều thành phần, các thành phần KT cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.
- Các chính sách nhằm cải thiện môi trường KT và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài.
  1.3.7.Vai trò điều chỉnh
- Nhà nước dùng quyền lực nhà nước để răn đe, ngăn chặn, cưỡng chế, phòng ngừa các hiện tượng có thể ảnh hưởng xấu đến lợi ích công.
- Duy trì trật tự an toàn XH, an ninh quốc gia.
       VD: Chính sách phòng chống tệ nạn XH, nhất là nạn ma tuý và tai nạn giao thông
- Bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân
VD: Chính sách nghĩa vụ quân sự, chính sách thuế, Chính sách bảoDuy trì sự công bằng về quyền lợi giữa các công dân và nhóm công dân, giữa các thành phần KT
VD: Chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách bảo hộ hàng sản xuất trong nước
- Bảo vệ sự phát triển bền vững của cộng đồng
VD: Chính sách về bảo vệ và cải thiện môi trường
    -  Bảo hộ sở hữu trí tuệ
1.3.8. Vai trò điều tiết
- Còn gọi là chính sách phân phối lại (lấy của người giàu trao cho người nghèo) nhằm điều tiết sự mất cân bằng, phân hoá giàu nghèo, bất công của xã hội
VD:
 + Chính sách thuế thu nhập
+ Chính sách trợ giá nông sản
+ Chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái, lãi suất ngân hàng
+ Chính sách viện phí, Chính sách trợ giúp cho người nghèo được khám chữa bệnh

1.4.  Chu trình chính sách
Khái niệm: Chu trình chính sách được hiểu là quá trình luân chuyển các bước từ khởi sự chính sách đến khi xác định được hiệu quả của chính sách trong đời sống xã hội.
- Phát hiện mâu thuẩn
- Xác định vấn đề chính sách
- Hoạch định chính sách
- Thực thi chính sách
- Duy trì chính sách
- Đánh giá chính sách
- Phân tích chính sách.
Nhận xét:
         Gồm 7 bước, số bước chỉ là tương đối
         Tính khép kín, lặp lại, khởi đầu từ Phát hiện mâu thuẫn và Xác định vấn đề chính sách.
         Tính chất trình tự, theo một trật tự nhất định
         Vai trò của phân tích chính sách (không phải là một bước),
         Có thể làm gọn số bước còn 2, 3 bước.
Một cách tổng quát, có 3 giai đoạn:
1.     Hoạch định chính sách
2.     Thực thi chính sách
3.     Đánh giá chính sách
1.4.1.Phát hiện mâu thuẫn.
1.4.2.Xác định vấn đề chính sách
         Tính bức xúc của vấn đề chính sách.
         Tính thời cơ ban hành chính sách:
                   - Thời điểm tại 1 không gian hội tụ đầy đủ các điều kiện thuận lợi để thực hiện CS.
         Khả năng giải quyết vấn đề:
                   - Năng lực, tiềm lực có thể huy động vv giải quyết vấn đề.
         Khả năng tồn tại trong hệ thống công cụ.
         Kết quả, hiệu quả của CS
         1.4.3.Vấn đề chính sách
          - Là những mâu thuẫn nảy sinh trong các lĩnh vực hoạt động cần được giải quyết bằng chính sách để thoả mãn những nhu cầu nhất định của hội.

          - Những nhu cầu tương lai của đời sống XH cần đạt được bằng CS
          chính sách để thoả mãn những nhu cầu nhất định của hội.
         Xác định lại vấn đề.
         Xác định mục tiêu.
         XD các phương án lựa chọn.
         Lựa chọn phương án.
         Thẩm định phương án.
         Quyết nghị chính sách.
         Ban hành và công bố chính sách.
1.4.4. Các bước tổ chức thực thi chính sách
         Xây dựng kế hoạch.
         Triển khai thực hiện chính sách.
         Phổ biến, tuyên truyền chính sách.
         Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
         Duy trì chính sách
         Điều chỉnh chính sách
         Theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
         Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm
1.5. Phân loại chính sách
1.5.1. Sự cần thiết phải phân loại chính sách
     Các hoạt động KT, XH, môi trường đan xen vào nhau hết sức phức tạp, do vậy các CS tồn tại trong điều kiện trên có thể vừa thúc đẩy nhau, vừa kìm hãm  lẫn nhau.
     Nếu không nắm chắc tính năng, tác dụng các loại chính sách CS điều chỉnh bằng CS, nhưng lại có lĩnh vực bị CS điều chỉnh chồng chéo dẫn đến hạn chế tác dụng, kém hiệu quả.
1.5.2. Các tiêu chí phân loại CSC   
*Theo tiêu chí lĩnh vực hoạt động
          Bao gồm nhiều loại:
       Chính sách kinh tế
       Chính sách xã hội
       Chính sách văn hoá
       Chính sách giáo dục
       Chính sách an ninh, quốc phòng
       Chính sách đối ngoại
      
*Theo chủ thể ban hành
         Chính sách của Nhà nước (còn gọi chính sách công),
         Chính sách của các Doanh nghiệp,
         Chính sách của các Tổ chức phi chính phủ khác.
Theo cách phân loại trên thì CSC nền tảng cho CS các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ nên tính ổn định, tính bao hàm của CSC thường cao hơn.
*Theo tiêu chí cấp độ chính quyền ban hành
         nhiều ý kiến khác nhau:
       CSC chỉ do chính quyền Trung ương ban hành.
       CSC chủ yếu do chính quyền Trung ương ban hành, còn chính quyền địa phương thì chủ yếu thực thi CS. Nếu hoạch định CS thì cũng chỉ đến chính quyền cấp tỉnh.
       Tất cả các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương đều thẩm quyền ban hành chính sách công.
         Phụ thuộc vào mức độ phân quyền của từng quốc gia
* Theo tính chất ứng phó của chủ thể
- Chính sách chủ động
- Chính sách thụ động
*Theo tính chất tác động
- Chính sách thúc đẩy kìm hãm
- Chính sách điều tiết tạo lập môi trường.
- Chính sách tiết kiệm tiêu dùng
* Theo phạm vi quan hệ
- Chính sách đối nội.
- Chính sách đối ngoại
*Theo tiêu chí thời gian thực hiện, có 3 loại: Dài hạn, trung hạn, ngắn hạn
- Chính sách dài hạn
VD: CS phát triển nền KT nhiều thành phần: NN thực hiện nhất quán Chính sách phát triển nền KT thị trường định hướng XHCN (Điều 15 HP sđ 2001) :
Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.
- Chính sách trung hạn
         Thời gian thực hiện từ 3-5 năm.
         VD: Nghị quyết số 16/2000/NQ - Chính phủ ngày 18-10-2000 của Chính phủ về việc tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp mục II.4 về CS đối với cán bộ, công chức thuộc diện tinh giản biên chế, áp dụng trong 3 năm 2000-2002
- Chính sách ngắn hạn
Hiện nay nhiều quốc gia thực hiện phân loại chính sách theo mục tiêu tác động nên chỉ bao gồm ba loại bản :
          • Chính sách phát triển con người,
          • Chính sách đối nội
          • Chính sách đối ngoại.

2.     PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CÔNG

2.1. Khái niệm phân tích CSC.
Phân tích: Là quá trình phân giải tài liệu để chủ thể có được thông tin cho việc ra một quyết định quản lý.
Phân tích CSC là phân giải các hoạt động liên quan đến chu trình CS nhằm chỉ ra những mối quan hệ mang tính quy luật giữa các yếu tố cấu thành trong hoạt động CS, giúp nhà QL đưa ra được những quyết định đúng.
- Hoạt động phân tích CS: Là việc phối hợp các phân tích riêng lẻ về hiệu lực và hiệu quả của CS để đưa ra kết quả tổng hợp về CS
•Sản phẩm của phân tích chính sách
          - Lời khuyên
          - Những kiến nghị→      Thông qua xã hội dân sự
  Phản biện xã hội…
- Từ những năm 1960, PTCS đã trở thành một ngành khoa hoc trong KHHC và quản lý  nhằm giúp cho các nhà lãnh đạo NN ra được các chính sách tối ưu và tổ chức thực thi CS thành công, phục vụ trực tiếp cho quá trình quản lý NN.
         Để có những sản phẩm sau phân tích, việc phân tích cần thực hiện được những nhiệm vụ cơ bản sau:
`- Xem xét, đánh giá, so sánh các mục tiêu và giải pháp, công cụ CS (…) => nhằm lựa chọn phương án CS thích hợp.
- Đánh giá các ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của chính sách đến sự phát triển KT - XH
- Đề ra khuyến nghị để điều chỉnh, hoàn thiện và đổi mới các CS.
* Quan điểm của phân tích chính sách (các nước Tư bản)
Khi phân tích một CS nào đó các nhà phân tích thường đưa ra các câu hỏi:
- Chính sách đó ai đưa ra (nhóm quyền lực nào)?
- Nhóm chính trị nào gây ảnh hưởng nhiều nhất đến chính sách?
- Ai hưởng lợi?
- Ai bị thiệt thòi do chính sách đó?
Ví dụ
- Ở Thái Lan có rất nhiều nhóm quyền lực khác nhau gây ảnh hưởng đến các CS đưa ra, trong đó nhóm quân sự là nhóm mạnh nhất, tạo được những lợi thế CT trên phương diện này.
- Ở Mỹ, các CS đều chịu ảnh hưởng rất lớn của các nhóm quyền lực. Quốc hội Mỹ rất muốn đưa ra một đạo luật cấm dân chúng sử dụng vũ khí. Tuy nhiên nhóm các nhà TB sản xuất vũ khí trong Quốc hội Mỹ rất quá trình hoạch định và tổ chức thực thi CS trong mạnh nên đạo luật đó vẫn chưa thể ra đời
- Ở Việt Nam, QLNN là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan quyền lực. Vì có sự thống nhất cơ bản về lợi ích giữa các giai cấp, các tầng lớp nhân dân.
FTheo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Tuy vậy vẫn có những mâu thuẫn xảy ra giữa các cơ quan hoạch định CS và thực thi CS.
 Quan điểm phân tích chính sách
         Quan điểm giai cấp;
         Quan điểm lịch sử;
         Quan điểm cách mạng;
         Quan điểm hệ thống;
         Quan điểm thực tiễn và hữu dụng.
2.2.Tầm quan trọng của phân tích CSC
Hình thức:(Phân tích chu trình CS)
- Phát huy vai trò của công cụ CS trong QLNN. CS là một công cụ QL→Cần phải phân tích để thấy được tính công cụ của CS.
- Để phát hiện ra những thiếu sót, kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện CS.
- Đảm bảo tính hệ thống của CS trong hoạt động công cụ QL của NN.
- Thấy được sự ảnh hưởng của CS đến đời sống XH( kết quả, hiệu quả)
- Duy trì CS và thấy được động lực của CS.
Nội dung ( Phân tích cấu trúc CS)
- Để thấy được tính thiết thực của mục tiêu CS. Mục tiêu CS mà chủ thể dự kiến theo đuổi:
+ Có thiết thực không?
+ Có khả thi không?
+ Có phù hợp với mục tiêu chung của tổ chức không ?v. v …
- Phân tích để thấy được tính hệ thống của mục tiêu CS.
+ Mục tiêu: lâu dài; trước mắt; trực tiếp; gián tiếp…

+ Mục tiêu của CS tác động đến nhiều hướng (đối tượng, lĩnh vực). Vì thế phải phân tích tính hệ thống của mục tiêu CS là đúng đắn.
+ Phân tích xem xét mối quan hệ giữa mục tiêu và biện pháp của CS.
+   Phân tích để thấy được tính hệ thống của CS
Thứ nhất, CS mới ban hành có đúng là một CS không hay chỉ là những biện pháp thực thi CS?
Thứ hai, CS mới ban hành có phù hợp với hệ thống dã có hay không?hay gây nên những xung khắc với các CS đã có?
Thứ ba, CS sách mới ban hành có trợ giúp gì cho hệ thống như khác phục những tồn tại hiện có của hệ thống hay thúc đẩy hệ thống vận động tốt hơn?
- Phân tích để thấy sự phù hợp giữa CS với môi trường.
 Môi trường cho tổ chức hoạt động bao gồm môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, tự nhiên...và những yếu tố này cũng thường xuyên biến động.
Môi trường tồn tại của chính sách công
+ Môi trường chính trị
+ Môi trường kinh tế
+ Môi trường văn hóa
+ Môi trường tự nhiên
+ Môi trường xã hội
+ Môi trường pháp lý
+ Môi trường quốc tế
2.3. Chức năng phân tích CSC
         Chức năng thông tin: Giúp các nhà QL biết được thực trạng và xu thế vận động của mỗi bước trong quy trình CS - QĐ.
         Chức năng tạo động lực: Sáng tỏ vấn đề, tạo niềm tin, tính khả thi của CS.
         Chức năng kiểm soát: Qua phân tích CSC sẽ biết được mức độ, tiến độ và sự kết hợp hoạt động của các bước trong chu trình CS. Nhờ đó, NN sẽ duy trì CS theo yêu cầu QL
2.3.1. Chức năng thông tin
Thực hiện chức năng này nhằm cung cấp các thông tin theo yêu cầu của chủ thể quản lý. Thông tin có được bao gồm thông tin quá khứ, hiện tại và tương lai.
2.3.1.Chức năng thông tin
- Thông tin quá khứ: là kết quả diễn biến của quá trình phát hiện mâu thuẫn, lựa chọn vấn đề cho hoạch định và thực thi những chính sách tồn tại trong đời sống xã hội. Thông tin này cho biết giá trị thực tế và những hạn chế cụ thể của những dự báo cho đến thời điểm phân tích, đồng thời cũng cho thấy những  nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến kết quả dự báo.
- Thông tin hiện tại : là thực trạng diễn biến của việc triển khai lựa chọn vấn đề chính sách, hoạch định hay tổ chức thực thi chính sách trong đời sống xã hội. Thông tin hiện tại cho biết các quá trình triển khai có đảm bảo mục đích, yêu cầu của chủ thể đề ra hay không, đồng thời cũng cho biết mức độ chênh lệch giữa hoạt động triển khai với dự kiến của chủ thể.
- Thông tin tương lai:  là kết quả diễn biến của quá trình chính sách đạt được trong tương lai trên cơ sở kết quả phân tích chính sách quá khứ và hiện tại. Thông tin tương lai cho biết khả năng vận động của quá trình chính sách hiện có để chủ thể chủ động ứng phó với những tình huống xảy ra trong thực tế.
FChức năng thông tin là chức năng cơ bản nhất
3.2.Chức năng tạo động lực
- Sau khi chức năng thông tin của phân tích chính sách được thực hiện cả chủ thể và khách thể đến ý thức được về mình tại thời điểm phân tích để tự hoàn thiện và cùng nhau thực hiện tốt chu trình chính sách.
- Quan hệ truyền dẫn của chức năng thông tin làm cho phân tích chính sách có được chức năng của 1 công cụ dùng để tạo động lực cho các yếu tố cấu thành hoạt động của hoạch định chính sách và thực thi chính sách.
- Các yếu tố đó bao gồm chủ thể khách thể và môi trường chính sách.
-Phân tích chính sách giúp chủ thể đánh giá được mức khả thi của 1 chuỗi các quyết định từ việc lựa chọn vấn đề chính sách đến các biện pháp duy trì chính sách.
- Giúp chủ thể nhận diện được sát thực hơn về những giá trị mục tiêu mà các chính sách đang theo đuổi, giúp hun đúc ý chí của chủ thể ngày càng cao và hoàn thiện. Từ đó có thể thấy được thực trạng tồn tại và vận động của mình trong quá trình thực thi chính sách, để so sánh với mục tiêu phấn đấu của bản thân với yêu cầu của chính sách và môi trường.
Chính các yếu tố tham gia quá trình hoạch định và thực thi chính sách là động lực thúc đẩy tạo nên môi trường thuận lợi cho các hoạt động cạnh tranh hay liên kết phát triển tổ chức.

3.3.Chức năng kiểm soát
Tính công cụ của phân tích chính sách còn thể hiện ở khả năng kiểm soát toàn bộ chu trình chính sách theo yêu cầu của chủ thể quản lý, khi ban hành chính sách ý chí của chủ thể phản ánh rõ nét trong cách ứng xử với các hiện tượng phát sinh nhằm đạt mục tiêu trong tương lai, giúp chủ thể nhận biết được những sai lệnh giữa dự kiến và thực tế để chủ động nắm bắt được thực trạng của cả tổ chức từ đó kịp thời đôn đốc, điều chỉnh mục tiêu, biện pháp cho phù hợp với môi trường nhằm đạt được mục tiêu định hướng.
 của chủ thể quản lý. Khi ban hành chính sách, ý chí của chủ thể được phản ánh rõ nét trong cách ứng xử với các hiện tượng phát sinh nhằm đạt mục tiêu trong tương lai.
2.4. Các yêu cầu của phân tích CSC        :
         Yêu cầu toàn diện.
         Yêu cầu thường xuyên.
         Yêu cầu sát thực.
         Yêu cầu đồng bộ.
         Yêu cầu lôgic
2.5. Quy trình phân tích
         Xác định mục tiêu của phân tích.
          - Mục đích, yêu cầu của nhà QL( Những giá trị do nhà QL đưa ra).
          - Mục tiêu của phân tích, giá trị do nhà phân tích lựa chọn để đáp ứng.
         Lựa chọn nội dung phân tích.
         Lên kế hoạch phân tích.
         Thu thập và xử lý thông tin để phân tích.
         Thực hiện phân tích.
         Sử dụng kết quả phân tích
2.5.1..Xây dựng kế hoạch phân tích
         Đây là bước khởi đầu cho cả quá trình phân tích giúp chúng ta chủ động tiếp cận với mục tiêu bằng các phương pháp thích hợp. Là bước khởi đầu cho cả quá trình phân tích giúp chúng ta chủ động về thời gian để có những chương trình phù hợp với mỗi quá trình cụ thể.
         Bên cạnh đó nó còn giúp cho việc huy động được các điều kiện vật chất, trang thiết bị kỹ thuật để phục vụ tốt cho công tác hoạch định.
         Kế hoạch cũng giúp cho chúng ta chủ động về thời gian cho từng khâu của chính sách.
         Thông thường việc xây dựng kế hoạch phân tích ba gồm các nội dung sau đây: đó là xây dựng kế hoạch phân tích từng hoạt động chính sách từ hoạch định đến đánh giá. Kế hoạch tiến độ phân tích chính sách kế hoạch nguồn nhân lực cho phân tích chính sách, kế hoạch phối hợp phân tích giữa các cơ quan chức năng, giữa các bước tiến hành phân tích.
         Và mỗi một kế hoạch trên phải đảm bảo cả phương pháp dự phòng để chủ động ứng phó với các tình huống xảy ra.

         Xây dựng kế hoạch tiến độ phân tích CS.
         Xây dựng kế hoạch nguồn lực cho phân tích CS (nhân lực và vật lực).
         Xây dựng kế hoạch phối hợp phân tích giữa các cơ quan chức năng, giữa các bước tiến hành phân tích.
         Có những kế hoạch dự phòng để chủ động ứng phó được với những biến động bất thường xảy ra trong quá trình phân tích.
2.5.2.Tổ chức công tác phân tích CS
         Đây là bước triển khai ban đầu theo kế hoạch phân tích để sắp xếp các yếu tố tham gia quá trình phân tích, vừa đảm bảo khối lượng công việc và đảm bảo được hiệu quả của công tác này.
         Nhiệm vụ của tổ chức phân tích là phải phân công, phân cấp và phối hợp các bộ phận tham gia hoạt động phân tích thực hiện các công việc như:
         Thu thập tài liệu: Căn cứ vào yêu cầu phân tích chính sách của chủ thể mà tiến hành thu thập tài liệu cho phù hợp, đúng đủ kịp thời đảm bảo cho công tác phân tích tránh lãng phí.
         Xử lý tài liệu thu thập được: là hoạt động tiếp theo của bước thu thập tài liệu nhằm xác định tính hợp lý, hợp pháp của tài liệu thu thập được và hiệu chỉnh tài liệu theo nội dung cần phân tích.
         Tổng hợp tài liệu: là hoạt động phối hợp các dữ liệu đã thông qua được xử lý bằng các phương pháp như toán học, thống kê, kinh tế, xã hội học v. v...để tạo nên những thông tin hữu ích cho phép nhận biết được thực trạng kết quả hay quá trình vận động của một hiện tượng trước và sau khi chịu tác động của một CS.
         Phân tích tài liệu: là hoạt động phân giải các kết quả tài liệu đã được tổng hợp để thấy được kết quả vận động phát triển của một hay nhiều hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng với các hiện tượng khác và với môi trường. Đồng thời cũng cho phép xác định rõ những nhân tố ảnh hưởng và mức ảnh hưởng của chúng đến kết quả vận động của hiện tượng. Đây là bước Quyết định cho phép rút ra những kết luận cần thiết về kế hoạch và thực thi chính sách.
         Quản lý, đánh giá kết quả phân tích CS: là hoạt động đánh giá về một CS về lý luận và thực tế, đồng thời đặt nền móng cho việc tiếp tục duy trì chính sách đang tồn tại hoặc hoạch định chính sách cho kỳ sau.
         Ngoài ra, nhà phân tích còn phải cung cấp đầy đủ những điều kiện vật chất, kỹ thuật để đảm bảo cho quá trình phân tích đạt yêu cầu đề ra.
2.5.3.Kiểm tra, đôn đốc quá trình phân tích
         Các hoạt động liên quan đến phân tích CS thường xuyên vận động biến đổi theo các quá trình KT - XH, vì vậy, thường xuyên kiểm tra hoạt động phân tích sẽ kịp thời phát hiện những chênh lệch trong kế hoạch dự kiến hay những sai sót trong tổ chức để điều chỉnh, bổ sung. Đồng thời cũng khuyến khích được những khâu khó khăn trong hoạt động phân tích, làm cho công tác này ngày càng hoàn thiện.
Thực hiện phân tích
         Phân tích các yếu tố cấu thành của nội dung.
         Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung phân tích.
         Các kết luận về hoạt động của công tác phân tích.
         Đề xuất các biện pháp.
         Thẩm định, thông qua kết quả phân tích.
         Lập báo cáo phân tích
2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến phân tích CS
2.6.1.Yếu tố chính trị
Thái độ CS của NN được thể hiện trong các CS để ứng xử với các đối tượng và quá trình KT - XH, nên CSC luôn mang tính CS rõ nét. NN đưa CS vào cuộc sống là để duy trì các hoạt động XH diễn ra theo định hướng chính trị.
2.6.2.Yếu tố kinh tế - xã hội
- Đối tượng của CS là toàn dân, toàn diện.
- Tác động của CS: Đời sống XH ngày càng phát triển về cả lượng và chất. .
-  Điều kiện KT được cải thiện sẽ tạo thuận lợi cho việc cung cấp các yếu tố vật chất kỹ thuật và tài chính cho  quá trình phân tích.
          → Sự ảnh hưởng của các yếu tố KT - XH đến kết quả và quá trình phân tích chính sách.
2.6.3.Yếu tố năng lực trình độ của chủ thể phân tích
- Chủ thể là yếu tố trung tâm, quyết định đến việc hoàn thành số lượng, chất lượng phân tích CS.
- Năng lực, trình độ của chủ thể phân tích thể hiện trên cả về lý luận và thực tiễn. Nếu chủ thể có trình độ năng lực tốt sẽ có khả năng hoàn thành khối lượng công việc phân tích lớn, có độ chính xác cao trong một thời gian ngắn. Đồng thời họ có khả năng nhận thức chính trị tốt, từ đó có ý thức định hướng trong suốt quá trình phân tích chính sách. Vai trò quan trọng như vậy nên yếu tố con người luôn được các nhà quản lý quan tâm phát triển.
- Chủ thể là yếu tố trung tâm, quyết định đến việc hoàn thành số lượng, chất lượng phân tích CS.
-  Năng lực, trình độ của chủ thể phân tích thể hiện trên cả về lý luận và thực tiễn. Nếu chủ thể có trình độ năng lực tốt sẽ có khả năng hoàn thành khối lượng công việc phân tích lớn, có độ chính xác cao trong một thời gian ngắn. Đồng thời họ có khả năng nhận thức chính trị tốt, từ đó có ý thức định hướng trong suốt quá trình phân tích chính sách. Vai trò quan trọng như vậy nên yếu tố con người luôn được các nhà quản lý quan tâm phát triển.
2.6.4.Yếu tố quan hệ quốc tế
- Môi trường quốc tế ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển KT -XH của quốc gia. .
-  Các quốc gia luôn phải điều chỉnh các CS đối nội cho phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Trong điều kiện quốc tế hóa hiện nay, các quốc gia cần thường xuyên theo dõi, phân tích đánh giá các CS hiện có để kịp thời phát hiện những bất cập trong CS để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.
- Khi quan hệ quốc tế mở rộng, thì tầm bao quát trong phân tích CS càng lớn. Chúng ta phải phân tích từ vấn đề chính sách đến mục tiêu, cơ chế, biện pháp chính sách v. v... Xem có mang tính quốc tế hay không.
- Qua đó cho thấy yếu tố quốc tế có ảnh hưởng ngày càng sâu rộng đến các hoạt động chính sách của Quốc gia nói chung, phân tích CS nói riêng.
2.7. Phân tích tính hệ thống của chính sách, cần chú ý các nội dung:
- Tính hệ thống của CS được hiểu là sự thống nhất của các loại CS trong hệ thống CS, sự thống nhất giữa mục tiêu CS với mục tiêu chung, thống nhất giữa Mtiêu và biện pháp chính sách, giữa CS với các công cụ QL khác.
2.7.1.Phân tích tính hệ thống của mục tiêu chính sách công.
- Phân tích tính thống nhất trong quan hệ giữa các bộ phận của mtiêu chính sách.
- Phân tích tính thống nhất của mtiêu chính sách về tính chất ( mtiêu trực tiếp; gián tiếp; trước mắt, lâu dài; mtiêu chính sách với mtiêu các chương dự án…)
- Phân tích tính thống nhất trong quan hệ giữa mtiêu chính sách với mtiêu định hướng.
- Phân tích tính thống nhất về mtiêu của chính sách trong hệ thống chính sách.
- Kết luận về tính thống nhất của mtiêu chính sách.
2.7.2.Phân tích tính hệ thống của biên fáp chính sách.
- Phân tích tính thống nhất về tính chất của các bpháp chính sách;
- Phân tích về tính phù hợp của các bpháp với cơ chế vận hành;
- Phân tích tính hiện thực của chính sách.
- Kết quả fân tích tính hệ thống của bpháp chính sách đi đến kết luận về tính khoa học, hợp lý của cơ cấu chính sách.
2.7.3. Phân tích tính hệ thống.
     NN được sử dụng công cụ QL vĩ mô để tổ chức, điều hành các đối tượng trong nên KT-XH. Do tính năng, tác dụng khác nhau, nên với công cụ được sử dung mmột mục đích nhất định. Có công cụ dược dùng đẻ qui định về hành vi hoạt động của đối tượng, có công cụ dùng khuyến khích đối tượng vận động . mặc dù được sử dụng với những mđích khác nhau, nhưng các công cụ đều tác động đến đối tượng theo một định hướng. Yêu cầu này tạo ra sự thống nhất trong việc ban hành và sử dung công cụ QL của NN.
*Liên hệ thực tế Việt Nam
- Phân tích  hệ thống của mục tiêu: các chính sách của Việt Nam đã phần nào đáp ứng được yêu cầu này, điều này thể hiện trong chính sách nguồn nhân lực của đất nước, trong chính sách này đã đáp ứng được các mục tiêu như phối hợp lại lực lượng lao động trong cả nước, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao... điều này đã trở thành hệ thống các mục tiêu cho một chính sách.
- Phân tích tính hệ thống của biện pháp chính sách: như trong chính sách phát triển nguồn nhân lực thì các biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách là đồng bộ, có hệ thống đó là việc tiến hành di dân có kế hoạch lên vùng thiếu lao động, có kế hoạch đào tạo nhân lực có chất lượng, xây dựng các dự án để tạo việc làm cho lao động.
-Tính hệ thống của chính sách với công cụ quản lý vĩ mô. Để thực hiện được chính sách này trong giai đoạn hiện nay của Việt Nam, Nhà nước đã áp dụng song song khá nhiều biện pháp để đạt mục tiêu của chính sách đề ra.
Nguyên tắc phân tích chính sách.
Phân tích chính sách là một hoạt động tổng hợp bao gồm cả việc tìm kiếm, chia tách, tổng hợp, lý giải kết quả của một chính sách. Để nội dung phân tích chính sách diễn ra theo định hướng với đầy đủ tính lý luận, thực tiễn và phát triển, chúng ta cần tuân theo các nguyên tắc sau đây:
a.Nguyên tắc mục tiêu:
- Trong đời sống kinh tế – xã hội, mục tiêu luôn là đích theo đuổi của mọi tổ chức và là vấn đề cốt lõi của mọi quá trình hoạt động và của cả các chính sách vì mục tiêu là điều cốt lõi để tạo nên một chính sách tốt, và đẻ đảm bảo nguyên tắc này thì mục tiêu phân tích chính sách phải xuất phát từ mục tiêu của quản lý, trên cơ sở mục tiêu chung thì tiến hành xây dựng các mục tiêu phân tích chính sách.
- Việc tổ chức công tác phân tích phải đúng mục tiêu nghĩa là công tác phân tích phải hướng tới mục tiêu thể hiện ở việc dự liệu các điều kiện vật chất, nhân sự, môi trường cho việc phân tích chính sách. Điều này cũng có nghĩa là từ mục tiêu phân tích thì chúng ta huy động và tổ chức sử dụng các nguồn lực một cách có kế hoạch.
- Tài liệu phân tích phải phù hợp với mục tiêu để định hướng thông tin theo yêu cầu phân tích và để đảm bảo được hiệu quả của hoạt động này, mỗi một mục tiêu thì cần thu thập những tài liệu khác nhau
- Bên cạnh đó, phương pháp phân tích cũng cần thống nhất với mục tiêu thì mới làm cho kết quả phân tích ở mỗi giai đoạn được đúng đắn, chính sách và như vậy sẽ làm cho toàn bộ quá trình phân tích có độ tin cậy cao.
- Khi tìm ra kết quả phân tích thì nó phải được sử dụng để phát triển mục tiêu.
b.Nguyên tắc hợp lý. Đây là nguyên tắc quan trọng vì thiếu nó thì việc phân tích chính sách khó có thể hiệu quả. Và nguyên tắc này yêu cầu:
- Xác định mục tiêu phân tích hợp lý với điều kiện cụ thể diễn ra quá trình thực hiện chính sách cần xác định như vậy vì mục tiêu dự kiến thường có khoảng cách với hiện thực.
- Lựa chọn phương pháp phân tích hợp lý để tạo quan hệ tốt với mục tiêu và kết quả vì phương pháp phân tích sẽ đưa ra kết quả hợp lý.
- Cung cấp nguồn lực phân tích hợp lý tạo thuận lợi cho việc phân tích chính sách.
- Nhưng nhìn chung để đạt được nguyên tắc hợp lý thì phải đạt được các yêu cầu trên.
c.Nguyên tắc thích ứng trong phân tích chính sách là cần thiết khách quan và được thể hiện các mặt sau:
- Lựa chọn mục tiêu phân tích nhất thiết phải theo yêu cầu quản lý.
- Xác định nội dung phân tích phải thích ứng với mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn.
- Thời điểm phân tích phải thích ứng với từng loại chính sách.
Kết quả phân tích phải được sử dụng thích hợp theo yêu cầu quản lý.
d.Nguyên tắc phối hợp
Nguyên tắc này yêu cầu khi tiến hành phân tích phải biết kết hợp các kết quả phân tích để có được những thông tin tổng hợp cho quá trình phân tích tiếp theo nếu không sẽ gây ra mâu thuẫn giữa các quá trình dẫn đến kết quả phân tích chung, không đảm bảo độ tin cậy và làm lãng phí nguồn nhân lực của Nhà nước
Ngoài việc phối hợp về kỹ thuật phân tích còn phải phối hợp trong công tác chỉ đạo điều hành của cơ quan Nhà nước để mang lại hiệu quả lớn nhất trong phân tích chính sách.
e.Nguyên tắc hiệu quả.
Nguyên tắc này đề cập đến việc đạt được mục tiêu chính sách nhưng chi phí đầu vào phải thấp, theo yêu cầu của nguyên tắc này hoạt động phân tích chính sách cần phải đề cao việc tìm kiếm các phương pháp tối ưu để tiếp cận được kết quả nhanh nhất với chi phí hợp lý nhất.
f.Nguyên tắc chính trị trong phân tích chính sách:
Phải đặt ra nguyên tắc này vì mục tiêu chính trị luôn bao trùm mục tiêu  chính sách, tổ chức thựcthi chính sách phân tích chính sách. Thể hiện trong thực tế là các tổ chức cánhân khi tham gia phân tích chính sách phải tôn trọng mục tiêu và định hướng của Nhà nước
Liên hệ thực tế: trong thực tế việc phân tích chính sách thu hút đầu tư của khu vực Đông Nam bộ Việt Nam. ở nguyên tắc này thì đặt ra mục tiêu là thu hút lượng đầu tư nước ngoài ngày càng lớn vào các khu công nghiệp tại đây với các điều kiện ưu đãi  về đầu tư, chính sách, điều kiện về pháp luật.... Cùng với các điều kiện ưu đãi thì các khu công nghiệp này luôn thay đổi để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế và đầu tư. Và các khu công nghiệp này tạo ra hiệu quả cao trong quá trình phát triển kinh tế của đất nươc và đặc biệt việc phát triển  các khu công nghiệp này đều nằm trong chiến lược phát triển của đất nước.
Nguyên tắc cơ bản nhất là nguyên tắc mục tiêu vì nó là cốt lõi của cả chính sách nhưng đẻ chính sách đem lại hiệu quả cao cần phải kết hợp đầy đủ cả 6 nguyên tắc trên mới đưa đến hiệu quả cao.

3. ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CÔNG
3.1. Khái niệm:
Là những hoạt động đo lường kết quả và hiệu quả của CS trong và sau khi thực thi CS.
3.2. Vai trò của đánh giá CS:
- Khẳng định tính khả thi của CS trên thực tế.
- Chỉ ra những hạn chế của CS.
- Đo lường hiệu quả sử dụng nguồn lực.
- Cơ sở để hoạch định và tổ chức thực thi các CS tiếp theo
3.3. Các yêu cầu đối với việc đánh giá CS
- Toàn diện.
- Kịp thời.
- Khách quan.
- Tổng hợp
3.4. Quy trình đánh giá
- Xác định yêu cầu, nội dung, phương thức đánh giá CS.
- Dự kiến chủ thể đánh giá CS.
- Tiến hành đánh giá.
- Sử dụng kết quả đánh giá
3.5.Tiêu chuẩn của một chính sách tốt
3.5.1. Hướng tới mục tiêu phát triển chung.
     Mục tiêu chính sách phản ánh mong muốn của NN về những giá trị kinh tế, xã hội cần đạt đước trong tương lai phủ hợp với yêu cầu phát triển chung toàn xã hội. Một tốt phải đề cập tới mục tiêu cụ thể, đích thực vừa phù hợp với định hướng phát triển vừa phù hợp với nhu cầu của đời sống xã hội.
3.5.2. Tạo ra động lực mạnh.
     Sau khi ban hành, nếu một chính sách cập được những vấn đề bức xúc mà xã hội đang quan tâm qiảI quyết, tác động trực tiếp đến nguyên nhân của vấn đề bức xúc mà xã hội đang quan tâm giảg quyết, tác động trực tiếp đến nguyên nhân của vấn đề, có mục tiêu cụ thể, rõ ràng với những biện pháp khoa học chứa dựng cơ chế tác động thích hợp sẽ có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động kinh tế - xã hội.
3.5.3. Phù hợp với tình hình thực tế.
     Một chính sách được ban hành phảI xuất phát từ những vấn đề nảy sinh trong thực tế và lại trở về giảI quyết chính những vấn đề đó, bởi vậy chính sách mới ban hành nhất thiết phảI phù hợp với những điều kiện cụ thể. Nghĩa là cả mục tiêu và biện pháp của chính sách phảI phù hợp với điều kiện hiện có của đất nước, vùa đáp ứng được yêu cầu bức xúc của đời sống xã hội, vừa không làm phát sinh hay hạn chế được những vấn đề mâu thuẫn với mục tiêu quản lý.
3.5.4. Có tính khả thi cao.
     Tính khả thi của chính sách phụ thuộc vào sự ủng hộ của dân chúng, trình độ điều hành quản lý của NN và các điều kiện thuận lợi của môI trường.
3.5.5. Đảm bảo tính hơp lý.
     Tính hợp lý của chính sách được hiểu là sự cân đối, hài hoà giữa mục tiêu chính sách với nguyện vọng của đối tượng thụ hưởng trong hiện tại và tương lai. Tính hợp lý còn có nghĩa là để chính sách phát huy được tác dụng đúng với tính năng riêng của nó không làm biến dạng chính sách.
3.5.6. Mang lại hiệu quả cho đời sống xã hội.
     Hiệu quả của chính sách là cơ sở đề duy trình sự tồn tại và phát triển của các quá trình kinh tế - xã hội theo định hương.
     Để đánh giá chính sách thông thường người ta chia chính sách thành các chương trình, dự án khác nhau để trên cơ sở đó đánh giá được chi phí của đầu vào, kết quả của đầu ra.
     Những yêu cầu trên đây được coi là những tiêu chuẩn để đánh giá về một chính sách xem có tốt hay không căn cứ vào đó, các nhà quản lý sẽ tìm kiếm được mục tiêu và giảI pháp tốt trong quá trình hoạch định chính sách, đồng thời cũng đánh giá được mức độ hoàn thiện của một chính sách sau khi được ban hành.

Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức của nước ta hiện nay. Nội dung của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công chức?

Đề 2
Câu 1. Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức của nước ta hiện nay. Nội dung của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công chức?

V. VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI THỰC THI CÔNG VỤ - CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 


5.1. Người làm việc cho nhà nước

Chính vì khu vực công được hiểu khác nhau như vậy nên quan niệm về người làm việc trong khu vực công hay khu vực nhà nước cũng không thống nhất. Phạm vi rộng, hẹp của người làm việc cho khu vực công có thể khác nhau, nhưng nhìn chung, đó là những người được nhà nước trả lương và các khoản phúc lợi khác có liên quan bằng tiền từ ngân sách nhà nước.
 

 5.2. Phân loại người làm việc cho nhà nước

Phân loại theo bằng cấp, học vấn 
Có thể căn cứ vào nơi làm việc để phân loại.
Theo hệ thống thứ bậc trong cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước
Phân loại theo ngành (chuyên môn), ngạch (cấp bậc) và bậc (vị trí).
Phân loại theo hình thức đưa người vào cơ quan nhà nước
Những người được bầu làm việc theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước.
Người làm việc do tuyển dụng
5.2.1. Cán bộ
Cho đến nay, chưa có quy định riêng về “cán bộ”. Do đó, cán bộ là thuật ngữ để chỉ nhiều nhóm người khác nhau theo cách gọi chung.
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước[1]. Ngoài ra phạm vi cán bộ còn bao gồm những người được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội. Đây là nhóm cán bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)

5.2.2. Công chức

công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Ngoài ra còn có công chức cấp xã. Đó là những người được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Như vậy, công chức, theo Luật Cán bộ, công chức không bao gồm những người làm việc do Nhà nước chỉ định, bổ nhiệm trong các tổ chức kinh tế của nhà nước. Đó là những thực thể hoạt động dựa trên nguyên tắc lợi nhuận. Đối với nhóm lực lượng vũ trang, công an nhân dân, những người là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, hạ sỹ quan chuyên nghiệp cũng không thuộc vào phạm vi công chức.

5.2.3. Viên chức
viên chức gồm tất cả những ai là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật.
Hiện nay, Luật Cán bộ, công chức quy định những người trong bộ máy lãnh đạo quản lý của các đơn vị sự nghiệp công là công chức, do đó nhóm  viên chức sẽ không bao gồm những người này.

5.2.4. Những nhóm người khác.
                  
Trong khu vực nhà nước còn có nhiều người khác được nhà nước trả lương, công và các khoản phúc lợi có liên quan. Đó là: 
Những người làm việc không chuyên trách ở cấp xã,  ở thôn, làng, ấp, bản, buôn, sóc ở xã và tổ dân phố  ở phường, thị trấn.
Những người làm việc trong các loại tổ chức do nhà nước thành lập hoặc hỗ trợ
Những người làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước.

VI. QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 

 

6.1. Những nội dung cơ bản về quản lý cán bộ, công chức

                  
Quản lý cán bộ công chức nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng lực, trình độ và phẩm chất đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước. Một số vấn đề cơ bản sau về quản lý cán bộ, công chức cần được quan tâm:
-         Nội dung quản lý
-         Quy trình quản lý
-         Kỹ năng quản lý

Nội dung quản lý cán bộ, công chức được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Đó là những nội dung nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng được nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước. Quản lý cán bộ, công chức bao gồm những nội dung cơ bản sau :

-         Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về cán bộ, công chức;
-         Xây dựng kế hoạch, quy hoạch cán bộ, công chức;
-         Quy định chức danh và cơ cấu cán bộ;
-         Quy định ngạch, chức danh, mã số công chức; mô tả, quy định vị trí việc làm và cơ cấu công chức để xác định số lượng biên chế;
-         Các công tác khác liên quan đến quản lý cán bộ, công chức.
                  
Cùng với việc quy định những nội dung quản lý cán bộ, công chức, pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong việc quản lý đội ngũ này.
Bộ Nội vụ;
Các cơ quan quản lý chuyên ngành;
Quản lý nhà nước đối với công chức từng ngành;
Quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức trên địa bàn địa phương

Quy trình quản lý cán bộ, công chức bao gồm những hoạt động sau:
- Tuyển chọn, bố trí, sử dụng;
- Đánh gía;
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và sa thải;
- Khen thưởng và xử lý vi phạm kỷ luật;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến cán bộ, công chức  và thực thi công vụ của cán bộ, công chức ;
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý cán bộ, công chức

6.1.2. Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức 
a.Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
b.Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng

6.2. Quản lý cán bộ, công chức là quản lý thực thi công vụ của cán bộ, công chức

 

Cán bộ, công chức hoạt động theo quy định của pháp luật trên cơ sở nhiệm vụ và quyền hạn được trao. Quản lý cán bộ, công chức là nhằm đảm bảo cho quá trình thực hiện công vụ của cán bộ, công việc đạt được kết quả và hiệu quả như mong muốn, tạo điều kiện cho các cơ quan hành chính nhà nước đạt được mục tiêu đã đề ra. Một trong những nội dung quan trọng của quản lý cán bộ, công chức là hoạt động đánh giá công chức.  Đây cũng là cơ sở để xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng được yêu cầu của các cơ quan hành chính nhà nước.
                  
Đánh giá cán bộ, công chức là nhằm xác định mức độ hòan thành công việc, sự cống hiến của họ. Đánh giá cán bộ, công chức là cơ sở để đề ra  các quyết định nhân sự liên quan đến cá nhân cán bộ, công chức như tăng lương, đề bạt, khen thưởng, bãi nhiệm, kỷ luật và đào tạo, bồi dưỡng.

Một số nội dung sau cần phải quan tâm trong đánh giá cán bộ, công chức:
-         Mục đích đánh giá
-         Thời điểm đánh giá
-         Nội dung đánh giá
-         Tiêu chí đánh giá
-         Phương pháp đánh giá
-         Người tiến hành đánh giá
                  
Xác định mục đích đánh giá có vai trò quan trọng trong đánh giá cán bộ, công chức bởi tùy theo mục đích của hoạt động đánh giá, có các hình thức đánh giá sau đây:
-         Đánh giá hàng năm;
-         Đánh giá theo sự kiện, dự án;
-         Đánh giá để đề bạt, bổ nhiệm;
-         Đánh giá để khen thưởng, kỷ luật.
-          
Một số tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức cần được quan tâm bao gồm:
-         Lòng trung thành với tổ chức, tổ quốc, nhân dân
-         Đạo đức công vụ
-         Đạo đức xã hội
-         Tính kỷ luật, tính tổ chức, tuân thủ pháp luật
-         Trung thực
-         Chủ động, sáng tạo
-         Hợp tác
-         Mẫn cán
-         Uy tín
*   Mọi cán bộ, đảng viên phải chuyên tâm tu dưỡng, rèn luyện bản thân, kiên định lý tưởng, thường xuyên cảnh giác, giữ vững ý chí, đảm bảo ý thức tổ chức kỷ luật, rèn luyện đạo đức và thực hành lối sống lành mạnh. Cán bộ, công chức không né tránh, thiếu bản lĩnh đấu tranh với những hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Cần thấy được rằng việc phục vụ nhân dân là mục tiêu hàng đầu của công vụ, là thước đo chủ yếu nhất cho mức độ và kết quả thực hiện công vụ.
Lưu ý: Cần liên hệ thực tế cơ quan mình và xem lại số thứ tự

Câu 2:   Dịch vụ công, tại sao phải xã hội hóa một số loại dịch vụ công. Đánh giá một số loại dịch vụ công (như giáo dục, y tế, công chứng,…)

I. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ CÔNG


1.1.Nhận thức về dịch vụ công


1.1.1.Các quan niệm về dịch vụ công
Theo từ điển Petit Larousse: Dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm”1.
Theo Từ điển Oxford, dịch vụ công là: Các dịch vụ như giao thông hoặc chăm sóc sức khoẻ do Nhà nước hoặc tổ chức chính thức cung cấp cho nhân dân nói chung2.

Ở Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về khái niệm dịch vụ công, chẳng hạn:
- Dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm ổn định và công bằng xã hội, do Nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận [3].
- Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay uỷ quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện4.
1.1.3.Các đặc trưng của dịch vụ công

1.2. Phân loại dịch vụ công

+ Dịch vụ hành chính
+ Dịch vụ sự nghiệp
+ Dịch vụ công ích
Dịch vụ công ích bao gồm: vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch, thoát nước, vận tải công cộng, cấp điện, bưu chính,…

1.3. Các môi quan hệ trách nhiệm trong cung ứng dịch vụ công


Trên thực tế, có ba nhóm tác nhân tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ công:
Nhóm thứ nhất: người sử dụng dịch vụ (bệnh nhân, học sinh, hành khách xe buýt…)
Nhóm thứ hai: Các nhà cung ứng dịch vụ trực tiếp (trường học, bệnh viện, công ty xe buýt…).
Nhóm thứ ba: các nhà hoạch định chính sách về giáo dục, y tế, giao thông công cộng…
Mối quan hệ giữa ba nhóm tác nhân nói trên trong quá trình cung ứng dịch vụ hướng vào thực hiện mục tiêu của Chính phủ về cung ứng dịch vụ công là bảo đảm tính công bằng và hiệu quả.
Mối quan hệ giữa ba nhóm tác nhân nói trên thể hiện trong sơ đồ 11.1.

1.4.Vai trò của Nhà nước đối với việc bảo đảm cung ứng dịch vụ công cho xã hội

1.4.1. Sự cần thiết can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế
1.4.2. Mục tiêu can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế

Thứ nhất, bảo đảm hiệu quả kinh tế.
Thứ hai, bảo đảm công bằng xã hội
1.4.3. Các cách thức can thiệp của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công
-Trực tiếp tổ chức thực hiện một số dịch vụ công
- Gián tiếp tác động vào việc cung ứng các dịch vụ công do khu vực tư cung ứng
Tất cả những hoạt động cung ứng dịch vụ công nói trên, dù được tiến hành dưới hình thức nào thì Nhà nước cũng là người chịu trách nhiệm trước xã hội về việc cung ứng chúng. Vì vậy, khác với các dịch vụ tư do tư nhân trực tiếp cung ứng và thu lời, các dịch vụ công chịu tác động quan trọng của Nhà nước trong việc thực thi, phân phối, giá cả, chất lượng…

II.CÁC NỘI DUNG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG CỦA NHÀ NƯỚC


2.1. Xây dựng chiến lược và các chính sách, cơ chế về cung ứng dịch vụ công

2.2.Quản lý chi tiêu công hướng vào dịch vụ công cho đa số nhân dân

2.3.Phân cấp quản lý trong cung ứng dịch vụ công

2.4. Thực hiện chỉ đạo, điều hành, kiểm tra và giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ công nhằm bảo đảm các mục tiêu của Nhà nước

2.5.Tạo lập môi trường để tăng cường tiếng nói của người dân đối với các chính sách của Nhà nước

2.6.Ban hành các cơ chế khuyến khích các nhà cung ứng cải thiện dịch vụ công

2.7. Tăng cường sự phản hồi của khách hàng đối với nhà cung ứng

2.8. Xã hội hoá các dịch vụ công

Có thể hiểu xã hội hóa là quá trình huy động, tổ chức ự tham gia rộng rãi, chủ động của nhân dân và các tổ chức vào hoạt động cung ứng dịch vụ công trên cơ sở phát huy tính sáng tạo và khả năng đóng góp của mỗi người.

Xã hội hóa dịch vụ công bao gồm những nội dung cơ bản như sau:
 Một là, chuyển giao việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư. Đối với các dịch vụ công mà Nhà nước không cần can thiệp hoặc can thiệp không có hiệu quả thì Nhà nước có thể chuyển giao nhiệm vụ này cho khu vực tư, tức là cho phép các tổ chức trong khu vực tư tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ công này.
Hai là, huy động sự đóng góp của các tổ chức và công dân. Việc huy động sự đóng góp của các tổ chức và công dân được thực hiện với hai phương thức cơ bản:
Huy động kinh phí đóng góp của dân vào việc cung ứng dịch vụ công của các tổ chức nhà nước.
Động viên, tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động và tích cực của các tổ chức và công dân vào quá trình cung ứng dịch vụ công, đa dạng hóa các hoạt động cung ứng dịch vụ công trên cơ sở phát huy công sức và trí tuệ của dân. Chẳng hạn, huy động chất xám, năng lực quản lý, công sức của người dân vào các hoạt động cung ứng dịch vụ công.

Xã hội hóa dịch vụ công có những tác động tích cực như sau:
Việc chuyển giao một số dịch vụ công cho các tổ chức ngoài nhà nước sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các tổ chức này và tạo cơ hội cho người tiêu dùng lựa chọn và sử dụng những dịch vụ tốt nhất.
Việc xã hội hóa các dịch vụ công tạo điều kiện cho mọi người tham gia tích cực vào các hoạt động này, phát huy được khả năng và năng lực tiềm tàng trong xã hội, khơi dậy tính sáng tạo và chủ động tích cực của người dân, nhờ đó đa dạng hóa và tăng nguồn cung ứng các dịch vụ công cho xã hội.
Xã hội hóa dịch vụ công còn bao hàm ý nghĩa động viên sự đóng góp kinh phí của mỗi người cho hoạt động cung ứng dịch vụ công của Nhà nước (dưới hình thức thu phí), nhờ đó làm giảm bớt gánh nặng của ngân sách nhà nước trong điều kiện ngân sách nhà nước ta còn hạn hẹp.
Xã hội hóa dịch vụ công trong điều kiện phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng cùng với sự phát triển cơ chế thị trường là một giải pháp cần thiết để góp phần tạo ra sự công bằng tương đối trong tiêu dùng các dịch vụ công. Điều đó có nghĩa là những ai tiêu dùng nhiều dịch vụ công thì phải trả tiền nhiều hơn. Riêng trong trường hợp cung cấp các dịch vụ tối cần thiết cho những người thuộc diện khó khăn, nghèo đói hoặc là đối tượng chính sách, Nhà nước cần có những quy định ưu đãi hoặc hỗ trợ phù hợp để bảo đảm sự công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch giữa người giàu và người nghèo.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình xã hội hóa nếu không được quản lý phù hợp cũng dễ nảy sinh các mặt tiêu cực, chẳng hạn như việc các tổ chức tư nhân tăng phí dịch vụ, không bảo đảm chất lượng dịch vụ …
Điều cần lưu ý ở đây là: tất cả những hoạt động cung ứng dịch vụ công dù được tiến hành dưới hình thưc nào thì Nhà nước vẫn là người chịu trách nhiệm trước xã hội về việc bảo đảm cung ứng chúng. Nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức, điều hành, kiểm tra, giám sát đối với việc cung ứng các dịch vụ này nhằm bảo đảm đáp ứng ở mức cao nhất nhu cầu của nhân dân.

2.9. Hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo để tăng khả năng tiếp cận của họ đến các dịch vụ công


III.ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH DỊCH VỤ CÔNG


3.1.Cải cách dịch vụ hành chính

3.2.Cải cách dịch vụ sự nghiệp

3.3.Cải cách dịch vụ công ích


Lưu ý:
-         Đánh giá 1 số loại hình dịch vụ công (giáo dục, y tế, công chứng,…)
-         Liên hệ thực tế
-         Tự đánh số đề mục theo ý



[1] Điều 4, Luật Cán bộ, công chức 13/11/2008, có hiệu lực 01/01/2010
1 Từ điển Petit Larousse 1992, tr.892.
2 Từ điển Oxford, 2000, tr.1024.
3 Viện nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ: Dịch vụ công - đổi mới quản lý và cung ứng ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, 2007, tr. 49.
4 Viện nghiên cứu quản lý kính tế trung ương, TS.Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hoà: Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam, NXB Thống Kê, 2006, tr.12.

KHOA HỌC HÀNH CHÍNH

Mở đầu:
Thể chế hành chính nhà nước là thuật ngữ dùng để chỉ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh về các mặt tổ chức và hoạt động, chế độ công vụ, tài chính, nhân sự liên quan đến hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước; bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước trên mọi mặt đời sống xã hội của bộ máy hành chính nhà nước.
Thể chế hành chính: là tổng thể những quy định chính thức của Nhà nước (Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật) nhằm tạo khuôn khổ pháp lý cho các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng hành pháp đối với mọi mặt đời sống xã hội và cho mọi tổ chức, cá nhân sống và làm việc theo pháp luật, giữ vững trật tự kỷ cương xã hội, ổn định và phát triển.
Có thể chia hệ thống thể chế hành chính theo nhiều cách khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu và điều hành hành chính, song trên thực tế tổng thể hệ thống thể chế hành chính phổ biến được phân ra các loại theo 4 mô hình tổ chức trong xã hội:
Thể chế về tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.
Thể chế về quản lý hành chính của Nhà nước đối với các doanh nghiệp trên các lĩnh vực;
Thể chế về dịch vụ công đối với các đơn vị sự nghiệp;
Thể chế về các tổ chức thuộc lực lượng vũ trang.

Thực trạng thể chế hành chính nhà nước ta hiện nay:
+ Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo
Năm 2012, tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc có những diễn biến phức tạp. Số lượng đơn thư, vụ việc phát sinh còn nhiều, tập trung chủ yếu ở những địa bàn có nhiều dự án, công trình và các khu vực thành thị. Tình trạng khiếu kiện đông người xảy ra ở hầu hết các địa phương (21/25 tỉnh, thành phố) với 2.117 lượt đoàn và 1.199 vụ việc.
Hạn chế, nhận thức của một số địa phương về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo dẫn đến sự phối hợp, thực hiện chưa chặt chẽ, kém hiệu quả. Một số địa phương chưa chủ động, có trường hợp thiếu tích cực hoặc chờ đợi cơ quan cấp trên. Bên cạnh đó, luật cũng chưa có quy định xử lý đối với những trường hợp lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để gây rối.
Các vụ việc tồn đọng phát sinh đã nhiều năm nay và pháp luật điều chỉnh vấn đề này đã có nhiều thay đổi; hồ sơ, tài liệu bị thất lạc hoặc không đủ để làm căn cứ xem xét, giải quyết. Do một số cơ chế, chính sách còn chưa đảm bảo được sự hài hòa giữa các mục tiêu phát triển kinh tế với công bằng và an sinh xã hội nên người dân vẫn tiếp tục khiếu nại. Do công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo chưa quyết liệt, khi gặp khó khăn còn ngại va chạm, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

+ Thực trạng đảm bảo quy trình xây dựng văn bản
“Vừa thiết kế lại vừa thi công” là nhận xét của luật sư Nguyễn Văn Cường, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh về thực trạng xây dựng luật, văn bản quy phạm pháp luật hiện nay ở Việt Nam. Các đơn vị thuộc Chính phủ, Chính phủ là cơ quan hành pháp nhưng lại tham gia quá nhiều công việc lập pháp với hơn 90% dự án luật đều do cơ quan Chính phủ soạn thảo, đưa Bộ Tư pháp thẩm định rồi Chính phủ trình Quốc hội thông qua. Trong khi khối lượng công việc chuyên môn của các bộ, của Văn phòng Chính phủ, của Chính phủ là rất lớn, nguồn cán bộ pháp chế còn hạn chế cả về chuyên môn lẫn số lượng.
Các quy định về thẩm định, thẩm tra còn chung chung, khó xác định phạm vi. Chưa có quy định về chế tài đối với quy trình.
Kinh phí cho xây dựng pháp luật chưa được quy định rõ (soạn thảo, khảo sát, thẩm định, thẩm tra…)
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 dù đã có giảm một số hình thức văn bản quy phạm pháp luật nhưng nhìn chung vẫn còn quy định quá nhiều hình thức văn bản quy phạm pháp luật, trong khi không quy định rõ tiêu chí để phân biệt các loại văn bản đó đã gây khó khăn cho chính quyền địa phương trong việc xác định hình thức văn bản cần ban hành trong từng trường hợp cụ thể. Ngoài ra, quy định nhiều hình thức văn bản quy phạm pháp luật khó đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống văn bản và gây khó khăn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc triển khai áp dụng và tiếp cận văn bản.

+ Thực trạng đảm bảo thi hành, tổ chức thực hiện thể chế
Thủ tục hành chính tuy đã có những tiến bộ nhưng vẫn còn rườm rà, gây không ít phiền toái cho doanh nghiệp và người dân; cơ chế “xin – cho” vẫn còn tồn tại; cơ chế “một cửa” tuy đã được triển khai nhưng nhiều nơi còn hình thức chưa đi vào thực chất.
Các văn bản của Chính phủ thiếu đồng bộ; nhiều quy định đã lỗi thời hoặc còn quá nhiều thủ tục rườm rà.
Việc ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật còn chậm so với hiệu lực thi hành của Luật. Một số quy định chưa được ban hành hoặc đã có nhưng không phù hợp với thực tế; chưa đồng bộ, thiếu nhất quán, gây khó khăn cho việc thực hiện chính sách, pháp luật.
Tính chất dân chủ của nền hành chính nước ta thông qua một loạt các chủ trương, biện pháp như quy chế dân chủ cơ sở, sự tham gia của người dân vào hoạt động quản lý nhà nước, vào xây dựng thể chế, bầu trực tiếp trưởng thôn, bầu đại biểu vào cơ quan quyền lực nhà nước các cấp, thông qua hoạt động giám sát v.v… đã bước đầu được khẳng định, nhưng nhìn chung vẫn còn thấp.
Nhiều chủ trương, giải pháp đúng đắn nhưng chưa được triển khai kiên quyết nên chưa được hoàn thành dứt điểm và nhân rộng ở quy mô lớn.
Tệ cửa quyền, quan liêu, tham nhũng vẫn còn là vấn nạn, tính công khai minh bạch của nền hành chính còn nhiều thách thức, một bộ phận cán bộ, công chức suy giảm lý tưởng, lối sống, vi phạm đạo đức công vụ gây bất bình trong nhân dân.
Mức độ chuyên nghiệp, tính chuyên sâu, kỹ năng hành chính của cán bộ, công chức thấp. Trình độ hiểu biết và kỹ năng của cán bộ, công chức với hàm lượng khoa học, thông qua đó có đủ trình độ để xử lý các vấn đề quản lý ở tầm vĩ mô, vi mô thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiện đại. Các kết quả bước đầu trong việc áp dụng công nghệ thông tin vào hành chính,  trang thiết bị công sở chưa khắc phục được thực trạng nền hành chính của chúng ta còn lạc hậu so với mặt bằng trong khu vực và thế giới.

Nguyên nhân hạn chế, bất cập:
+ Năng lực xây dựng, tổ chức thực hiện thể chế còn hạn chế
Đội ngũ cán bộ, công chức xây dựng pháp luật còn yếu về trình độ, thiếu kỹ năng xây dựng, phân tích, thẩm định, thẩm tra các VBQPPL. Tính chuyên nghiệp, tư duy triết lý pháp quyền hầu như chưa được quán triệt trong cán bộ, công chức.
Ứng dụng thành tựu khoa học còn ít và không mang tính công nghệ (nghĩa là không có phương pháp tiếp cận các kiến thức hiện đại). 
 + Cơ chế xây dựng thể chế còn bất cập (Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ…) Quy trình hiện tại khiến cho luật thiếu tính cụ thể, khó áp dụng vì Ủy ban Thường vụ Quốc hội thẩm định cuối cùng dự án luật nhưng lại không tham gia từ đầu nên vừa khi ban hành xong, luật phải chờ nghị định (cấp Chính phủ), thông tư (cấp bộ) hướng dẫn. Cũng với quy trình hiện hành, một mình Bộ Tư pháp sẽ phải đứng giữa “rừng luật” với “rừng” thông tư để thẩm định, là việc làm không xuể.
+ Lợi ích nhóm tiêu cực chi phối làm méo mó thể chế dẫn đến tác động đến nội dung thể chế
+ Quá trình xây dựng thể chế chưa thực sự dân chủ, khoa học dẫn đến tính hiện thực, khả thi kém
Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, tổ chức trong xây dựng còn thiếu chặt chẽ và không đồng bộ; cơ quan soạn thảo chưa tiếp thu triệt để, nghiêm túc các ý kiến tham gia. 
Chưa có cơ chế phản biện xã hội của các tổ chức, đoàn thể, cá nhân (giám định xã hội) trong quá trình soạn thảo. 
Trách nhiệm của các thành viên Chính phủ chưa cao khi tham gia các phiên họp Chính phủ đối với các dự thảo (chỉ quan tâm đến lĩnh vực, ngành mình) 
Luật mới chỉ quy định mang tính chất khung; nhiều vấn đề về sự thu hút của giới khoa học, nhân dân chưa cụ thể.
Quy trình tham gia xây dựng, góp ý kiến của địa phương đối với việc ban hành văn bản của các cơ quan nhà nước ở Trung ương trong thời gian qua còn mang tính dàn trải, chưa đúng đối tượng, chưa đảm bảo thời gian; việc tổng hợp ý kiến góp ý của cơ quan chủ trì soạn thảo chưa thật sự khách quan, toàn diện, nhiều trường hợp bỏ qua những vấn đề còn có ý kiến khác nhau

+Cải cách hành chính chậm, hiệu quả còn thấp có những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
* Thứ nhất, công tác chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng tới Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không thật sự kiên quyết, nhất quán và cũng không bảo đảm tính thường xuyên, liên tục. Hoạch định chính sách, thể chế vốn đã khó, thường phải kéo dài, nhưng một khi đã được ban hành thì khâu tổ chức thực hiện lại quá chậm và kém hiệu quả. Trạng thái chung là chờ đợi, chờ hướng dẫn, chờ đôn đốc, rất ít bộ, ngành và tỉnh chủ động, quyết liệt triển khai.
* Thứ hai, chậm nghiên cứu, kết luận và thể chế hoá các vấn đề liên quan mật thiết tới cải cách hành chính. Cũng phải thấy rằng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang đặt ra khá nhiều vấn đề đòi hỏi phải có thời gian nghiên cứu, nhưng một số vấn đề như “bỏ cơ chế Bộ chủ quản”,  “Bộ thực hiện vai trò chủ sở hữu phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp” v.v… tuy đã có kết luận, nhưng khi đi vào cụ thể thì các quy định dự kiến ban hành cũng rất chậm. Lý luận thì khẳng định Bộ tập trung vào thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ở tầm vĩ mô, không can thiệp sâu vào hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc, nhưng thực tiễn thì Bộ trưởng phải xử lý khá nhiều công việc không thuộc tầm vĩ mô, nếu không giải quyết thì cũng không rõ ai giải quyết. Mối quan hệ giữa hành chính, doanh nghiệp và sự nghiệp đang đòi hỏi phải tiếp tục làm rõ hơn, cụ thể hơn.
* Thứ ba, khá nhiều vấn đề của cải cách hành chính đòi hỏi phải được giải quyết trong tổng thể các cuộc cải cách, đổi mới đang diễn ra ở nước ta. Mối quan hệ, chi phối lẫn nhau giữa cải cách hành chính, cải cách kinh tế, cải cách tư pháp, cải cách lập pháp và đổi mới từng bước hệ thống chính trị nếu không được bảo đảm, nếu thiếu đồng bộ sẽ ảnh hưởng tới tiến trình cải cách đổi mới nói chung và tới cải cách hành chính nói riêng. Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và đối với cơ quan hành chính nói riêng cũng chậm đổi mới.
* Thứ tư, chưa có biện pháp, cơ chế tạo động lực, hưởng ứng cải cách của đa số cán bộ, công chức cũng như chưa xử lý nghiêm bộ phận cán bộ, công chức thoái hoá, kém phẩm chất trong thực thi công vụ.

Nội dung cải cách thể chế hành chính từ nay đến năm 2020:
Nền hành chính nước ta tuy có nhiều đổi mới nhưng về cơ bản vẫn là một nền hành chính thực hiện theo cơ chế mệnh lệnh và “xin – cho”. Nền hành chính như vậy chưa thể đảm nhiệm vai trò khai thông các nguồn lực trong mỗi cá nhân, tổ chức và xã hội để phát triển đất nước. Trước yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong bối cảnh hội nhập như hiện nay, cần thiết phải chuyển từ nền hành chính truyền thống sang nền hành chính phát triển
Mục tiêu chung
Đến năm 2020 xây dựng được một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội.

Nhiệm vụ cải cách nền hành chính nhà nước đến năm 2020
1. Cải cách thể chế, bao gồm xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật; Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thành quả của đổi mới, của phát triển kinh tế - xã hội; Hoàn thiện thể chế về sở hữu, trong đó khẳng định rõ sự tồn tại khách quan, lâu dài của các hình thức sở hữu, trước hết là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu khác nhau trong nền kinh tế; Tiếp tục đổi mới thể chế về doanh nghiệp nhà nước và tổ chức và kinh doanh vốn nhà nước; Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về xã hội hóa theo hướng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia cung ứng các dịch vụ trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh; Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; Xây dựng, hoàn thiện quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân,
2. Cải cách thủ tục hành chính bao gồm cắt giảm và nâng cao chất lượng thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là thủ tục hành chính liên quan tới người dân, doanh nghiệp; cải cách thủ tục hành chính để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, giải phóng mọi nguồn lực của xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm điều kiện cho nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững; cải cách thủ tục hành chính giữa các cơ quan hành chính nhà nước, các ngành, các cấp và trong nội bộ từng cơ quan hành chính nhà nước; kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật; công khai, minh bạch tất cả các thủ tục hành chính; cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng thể chế, mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của các tổ chức và chuyên gia tư vấn độc lập trong việc xây dựng thể chế, chuẩn mực quốc gia về thủ tục hành chính; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định hành chính để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các quy định hành chính và giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp.
3. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước bao gồm tiến hành tổng rà soát và điều chỉnh phù hợp về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế hiện có của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, các cơ quan, tổ chức khác thuộc bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương và địa phương (bao gồm cả các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước); chuyển giao những công việc mà cơ quan hành chính nhà nước không nên làm hoặc làm hiệu quả thấp cho xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận; tổng kết, đánh giá mô hình tổ chức và chất lượng hoạt động của chính quyền địa phương nhằm xác lập mô hình tổ chức phù hợp, bảo đảm phân định đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, sát thực tế, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng mô hình chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn phù hợp; hoàn thiện cơ chế phân cấp để đề cao vai trò chủ động, tinh thần trách nhiệm, nâng cao năng lực của từng cấp, từng ngành; tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra; tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước để bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm 2020; cải cách và triển khai trên diện rộng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công, nâng cao chất lượng dịch vụ công trong các lĩnh vực giáo dục, y tế đạt mức hài lòng của người dân trên 80% vào năm 2020.
4. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức bao gồm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ, năng lực và phhaamr chất thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước; xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ của cán bộ, công chức, viên chức, kể cả cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý; xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức hợp lý gắn với vị trí việc làm trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị; hoàn thiện quy định của pháp luật về tuyển dụng, bố trí, phân công nhiệm vụ công chức, viên chức; thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh; thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý từ cấp vụ trưởng và tương đương (ở trung ương), giám đốc sở và tương đương (ở địa phương) trở xuống; Xây dựng và thực hiện quy định pháp luật về đánh giá cán bộ, công chức, viên chức trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; thực hiện cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân; quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức tương ứng với trách nhiệm và có chế tài nghiêm đối với hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật, vi phạm đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức; đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng theo các hình thức: Hướng dẫn tập sự trong thời gian tập sự; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, viên chức; đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng bắt buộc kiến thức, kỹ năng tối thiểu trước khi bổ nhiệm và bồi dưỡng hàng năm; tập trung nguồn lực ưu tiên cho cải cách chính sách tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công; đến năm 2020, tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức được cải cách cơ bản, bảo đảm được cuộc sống của cán bộ, công chức, viên chức và gia đình ở mức trung bình khá trong xã hội; sửa đổi, bổ sung các quy định về chế độ phụ cấp ngoài lương theo ngạch, bậc, theo cấp bậc chuyên môn, nghiệp vụ và điều kiện làm việc khó khăn, nguy hiểm, độc hại; đổi mới quy định của pháp luật về khen thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ và có chế độ tiền thưởng hợp lý đối với cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành xuất sắc công vụ; nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức.
5. Cải cách tài chính công bao gồm huy động và phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội; tiếp tục hoàn thiện chính sách về thuế, tiền lương, tiền công; thực hiện cân đối ngân sách tích cực; tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước;  đổi mới căn bản cơ chế sử dụng kinh phí nhà nước; phát triển các doanh nghiệp khoa học, công nghệ, các quỹ đổi mới công nghệ và quỹ đầu tư mạo hiểm; xây dựng đồng bộ chính sách đào tạo, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ xứng đáng nhân tài khoa học và công nghệ; đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính nhà nước, tiến tới xóa bỏ chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay thế bằng cơ chế cấp ngân sách dựa trên kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước; tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục, đào tạo, y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình, thể dục, thể thao; đổi mới cơ chế hoạt động, nhất là cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công; chuẩn hóa chất lượng dịch vụ giáo dục, đào tạo, y tế; đổi mới và hoàn thiện đồng bộ các chính sách bảo hiểm y tế, khám, chữa bệnh; có lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân.
6. Hiện đại hóa hành chính bao gồm hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động của Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên Internet. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước để đến năm 2020: 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong quy trình xử lý công việc của cơ quan hành chính nhà nước; công bố danh mục các dịch vụ hành chính công trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên Internet; thực hiện có hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng trong các cơ quan hành chính nhà nước; đầu tư xây dựng trụ sở cơ quan hành chính nhà nước cấp xã, phường bảo đảm yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước và xây dựng hiện đại, tập trung ở những nơi có điều kiện.

Mối quan hệ giữa cải cách thể chế hành chính nhà nước và thủ tục hành chính:
Thủ tục hành chính là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nước theo đó cơ quan, cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ, cá nhân, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết các công việc của quản lí hành chính nhà nước.

Những đặc điểm của thủ tục hành chính:
+Thủ tục hành chính là thủ tục thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nước.
Thủ tục hành chính được thực hiện bởi các chủ thể quản lí hành chính nhà nước. Các chủ thể quản lí hành chính nhà nước bao gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cá nhân được nhà nước trao quyền; trong đó quan trọng nhất phải kể đến các cơ quan hành chính, các cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan này. Ngoài cơ quan hành chính, các cơ quan nhà nước khác cũng tiến hành thủ tục hành chính khi thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nước như khi các cơ quan đó xây dựng, củng cố chế độ công tác nội bộ; các cơ quan tổ chức, các nhân khi tiến hành các hoạt động quản lí hành chính được Nhà nước trao quyền trong các trường hợp cụ thể do pháp luật quy định.
+ Thủ tục hành chính do quy phạm pháp luật hành chính quy định.
Căn cứ vào mối quan hệ được điều chỉnh, quy phạm pháp luật hành chính được chia thành quy phạm nội dung và quy phạm thủ tục. Quy phạm thủ tục quy định cách thức thực hiện quy phạm nội dung, là yếu tố cần thiết và chiếm phần lớn trong các quy phạm pháp luật hành chính bởi vì: Các quan hệ thủ tục hành chính là đối tượng điều chỉnh của luật hành chính; Thủ tục hành chính do nhiều chủ thể tiến hành. Muốn tạo sự thống nhất trong hoạt động quản lí tất yếu phải được thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật có giá trị bắt buộc thi hành. Bên cạnh đó, thủ tục hành chính cần được quy định cụ thể, rõ ràng để tránh sự lạm quyền, lộng hành hay không thực hiện hết thẩm quyền của chủ thể quản lí, tạo nên sự tin tưởng của người dân đối với việc tham gia thủ tục hành chính, ngăn ngừa khả năng xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân.
+ Thủ tục hành chính có tính mềm dẻo, linh hoạt.
Biểu hiện đầu tiên đó chính là việc có rất nhiều thủ tục hành chính khác nhau. Mỗi thủ tục hành chính tương ứng với một hoạt động quản lí hành chính nhà nước cụ thể.
Không những thế, thủ tục hành chính còn có sự thay đổi tương đối nhanh. Sự thay đổi này cần được hiểu theo mặt tích cực mang tính khách quan: thay đổi để phù hợp và hiệu quả với tình hình xã hội đương thời. Khả năng thay đổi theo nhu cầu của thủ tục hành chính nhanh hơn các thủ tục khác.

Mối quan hệ giữa cải cách thể chế hành chính nhà nước và thủ tục hành chính:
Từ những phân tích về khái niệm và đặc điểm của thủ tục hành chính ta có thể thấy được ý nghĩa, vai trò quan trọng của thủ tục hành chính trong quản lí nhà nước, cũng như vai trò đối với sự phát triển của xã hội. Xét mối quan hệ giữa cải cách thể chế hành chính nhà nước và thủ tục hành chính, có thể thấy:
Thủ tục hành chính nằm trong thể chế hành hính, là mặt hình thức của thể chế hành chính.
Hiện nay, do vị trí, vai trò của thủ tục hành chính nên thủ tục hành chính được tách ra thành một nội dung của cải cách hành chính.
Tuy vậy, thể chế hành chính và thủ tục hành chính gắn bó với nhau vì là hai mặt nội dung và hình thức của thể chế hành chính. 
Thủ tục hành hành chính là hình thức, quy định cách thức, trình tự các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền giải quyết các công việc của công dân và doanh nghiệp, giúp cho thủ tục hành chính hiện thực hóa nội dung (tức là các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ hành chính).

Kết luận:
-Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính
Tập trung chỉ đạo chặt chẽ và đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật, đặc biệt là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và các thể chế vể nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Xác định hợp lý chương trình xây dựng pháp luật dài hạn và ngắn hạn. Nâng cao chất lượng xây dựng luật; xác định rõ quan điểm chỉ đạo của từng văn bản pháp luật cần ban hành. Ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật đủ cụ thể, rõ ràng, kịp thời, đúng quy định.
Xác định rõ những văn bản pháp luật cần thiết phải có để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế; không nhất thiết mỗi lĩnh vực, mỗi ngành phải có một bộ luật riêng. Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật; có cơ chế hợp lý để nhân dân tham gia ý kiến, nhất là các đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật sẽ ban hành. Khi đưa ra lấy ý kiến nhân dân phải được chuẩn bị kỹ, những vấn đề nhạy cảm liên quan đến quan điểm chính trị phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị.

-Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính
Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xem đây là khâu đột phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho hoạt động của nhân dân và doanh nghiệp. Tiến hành rà soát các thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực, chỉ rõ những thủ tục, những quy định sai pháp luật, không phù hợp để kiên quyết sửa đổi. Đây là khâu cản trở sự phát triển và gây nhiều bức xúc trong nhân dân, cần tập trung chỉ đạo tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực này.